Chương 17: Yến tiệc

Người Đại Bàng mở tiệc vào lúc giao thời, ở khoảnh khắc giao thoa giữa ngày trước và ngày sau, của ba ngôi qua, nay và mai. Là khoảnh khắc cả ba mắt của Sói cùng soi chiếu. Tiệc mừng tân vương của Lũy Xương cũng không phải ngoại lệ.

 

Đêm nay là ngày mười lăm trăng tròn, lại càng đúng dịp thiên thời địa lợi.

 

Theo đúng lời dặn của Lý Tình, Vũ Hoa đã chuẩn bị một yến tiệc vừa phải.

 

Yến tiệc được bày biện ở chính điện.

 

Không có đàn sáo múa ca, chỉ có không khí trang trọng, mâm cao cỗ đầy.

 

Không có pháo hoa rực rỡ, nhưng không gian thoáng đãng, lửa đèn sáng rực.

 

Khắp đại điện trải sa bạc viền đỏ xen với lụa xanh. Cả bầu không khí được ướp trong hương rượu hoa ngào ngạt, nhưng những người hầu đang phẩy những chiếc quạt lá xanh ngắt lại thổi vào hương nồng một thoáng thanh mát và trong lành.

 

Đại Ngự thị là người thay mặt cho Hoàng Đế, nhưng đây là đất của Lũy Xương, nên Bàng Linh Hà cũng chỉ ngồi ngang mâm với Lý Tình.

 

Ngồi cùng chủ và khách lớn là tôn bà Trịnh Liên và Thanh Sơn hầu Dương Mục.

 

Năm vị gia chủ của Lũy Xương cùng ngoại thị và anh chị em ngồi ở mâm dưới.

 

Còn mâm dưới nữa là con trẻ. Phạm Minh Quang, Trịnh Khuê cùng các công tử, công nữ khác ngồi cùng nhau. Lần đầu tiên sau nhiều năm, hai người phải ngồi cách xa Trịnh Liên và Lý Tình đến vậy.

 

Dù cho bình thường luôn từ chối, thì hôm nay Trịnh Liên hay Lý Tình đều phải nể mặt, uống một hai chén rượu.

 

Bàng Linh Hà thì vẫn thoải mái rượu chè thịt cá, cười nói vui vẻ như năm nào. Nhưng kỳ thực cũng không phải chỉ có mỗi bà ta. Trên mâm cao nhất và mâm của các gia chủ, chẳng ai là không cười nói vui vẻ.

 

Đây là một dịp đáng mừng. Dù cho Thái tử vừa mất, họ cũng không thể chỉ biết ủ rũ.

 

Sau khi rượu đã quá ba lượt, Bàng Linh Hà dường như ngà ngà say mà cất lời: “Quả là hoàng hoa tửu của Lũy Xương, mười mấy năm trước hay bây giờ, đều là uống một lần rồi như nằm mãi trong mộng, không thể nào quên được. Vương, Linh Hà xin được mượn một chén hoàng hoa tửu cuối cùng này, chúc mừng Vương. Chúc Vương trăm năm mạnh khỏe, Lũy Xương hưởng thái bình, Đại Bàng ta mãi mãi thịnh vượng!”

 

Lý Tình cũng nương bầu rượu nồng mà nâng chén đáp: “Lý Tình cũng xin mượn rượu, trước xin kính lên Lang mẫu, sau xin kính lên Bệ hạ. Lý thị được như hôm nay, đều là nhờ hồng ân bao la của Sói, nhờ sự minh triết của Triều Đình.” Rồi nàng đưa chén ra, cụng và chén rượu của Bàng Linh Hà, nói khẽ như thủ thỉ: “Sau cùng, là xin kính Đại Ngự Linh Hà, cảm ơn Đại Ngự đã chiếu cố.”

 

Bàng Linh Hà cười hì hì, lại cụng chén rượu rồi nói: “Vương coi trọng Linh Hà rồi. Nhưng mà, Linh Hà dù đã hơn năm mươi, vẫn là kẻ không hiểu biết lắm. Những năm trước đến Lũy Xương cũng chưa từng thấy qua, nên hôm nay được diện kiến, thật mở mang tầm mắt. Vương, viên Xích Thạch trên lược của ngài, chính là viên Thái Tông để lại làm vật đính ước sao ạ?”

 

Đến cuối cùng, Lý Tình cũng vẫn gọi Vũ Hoa vào chải lại tóc tai gọn gàng, cài lược bạc như trước. Trâm cài sẽ được dùng vào một dịp khác, bớt khách sáo và nghi lễ hơn, nàng nói với Trịnh Khuê vài lần để thuyết phục cô bé, và cũng để Vũ Hoa làm một kiểu tóc gọn gàng trang trọng hơn cho cô. Vũ Tả thị đã bận lắm rồi, nên Trịnh Khuê cũng không dám đòi hỏi giãy giụa nhiều, ngoan ngoãn để nàng ta chải tóc cho.

 

“Đại Ngự lại chưa từng thấy qua sao ạ?” Lý Tình liền tỏ vẻ bất ngờ mà hỏi, rồi đặt chén rượu xuống, nói: “Tôi nghe nói cha đã luôn giữ nó bên mình, sau khi nó suýt bị trộm đi vào ngày ông ấy lên kinh thỉnh tội với Tiên Đế.”

 

“Quả nhiên là cố Vương thận trọng, lời đồn chẳng sai ly nào mà!” Bàng Linh Hà uống cạn chén rượu, cười nói. “Vẫn luôn mong ngóng được nhìn thấy viên Hạ trú nhật của Thái Tông trong sử sách, vậy mà lại không biết tìm Lý Vương hỏi thăm, ngờ đâu quân vẫn luôn giữ bên người… Vậy mà khiến cho cả Xích Thành cứ tưởng bảo vật của Luỹ Xương đã thất lạc trong chiến loạn…Chư vị Lý Vương xưa nay, đúng là đã khiến Linh Hà phí cả nửa đời rồi…”

 

“Vậy Lý Tình lại vô ý mà làm được việc công đức rồi, có thể để chư quân cùng chiêm ngưỡng Xích Thạch gần năm trăm năm.” Lý Tình vừa cười vừa nói. “Nếu không phải năm xưa mẹ vì Lý Tình còn bé mà đem Hạ trú nhật gắn lên vật thôi nôi, thì có lẽ bây giờ tôi cũng chỉ biết giấu trong tay áo.”

 

“Vậy là Linh Hà phải cảm tạ Trịnh tôn bà rồi chăng?” Bàng Linh Hà nhìn viên đá đỏ trong suốt, tặc lưỡi nói. “Chậc. Đây thực sự là lời khẳng định lớn nhất mà Thái Tông để lại cho hậu thế chúng ta rồi, Họa thuật điêu luyện tinh khiết nhường này, nếu không phải còn nặng tình nghĩa, làm sao có thể mất vào tay ngụy đế chứ?”

 

“Đại Ngự nói vậy, lại càng khiến Lý Tình tò mò rồi.” Lý Tình lại cười đáp. “Tôi hiếm khi được thấy Xích Thạch của chốn cung đình, nào phân biệt được đâu là núi Thái Sơn?”

 

“Vậy sao ạ? Thế mà Linh Hà lại được nghe rằng,” Bàng Linh Hà lay chén rượu trống không, cuối cùng cũng lật ngửa lá bài đầu, “ở Lũy Xương có một vị Họa sư rất tài, năm xưa từng cống hiến cho Họa ban, sau lại bị biếm chức do nhiều điều sơ suất, được Lý thị cứu giúp, nên đành lui về Lũy Xương. Câu chuyện lỳ kỳ ấy đã xưa đến mức Linh Hà không nhớ được tên vị tiền bối ấy nữa rồi, nhưng vẫn ấn tượng không thôi. Cứ nghĩ, nếu vị ấy cũng cao dật lánh đời giống như Cao đại nhân nương về Định Phủ, hẳn cũng là bậc kỳ tài trăm năm có một.”

 

 

 

Bến cảnh An Dung hôm nay cũng lộng gió. Những căn nhà đóng chặt cửa lại, vừa để ngăn gió lớn, cũng có thể, là để ngăn tầm mắt người bên trong khỏi những bóng ảnh đang lao vút bên ngoài.

 

Nguyễn Đức Dục cùng đội của y mau chóng nấp vào một con hẻm lắt léo, trong thoáng chốc, cắt đuôi được kẻ đang đuổi theo.

 

Trong tay y nắm chặt một bức mật báo, khi ổn định lại hơi thở được một chút, y liền dúi nó vào trong vạt áo một người lính Trịnh gia đi theo y: “Cầm lấy, tìm được đường thoát ra thì ngay lập tức chạy đi. Bọn họ biết ta là chỉ huy rồi, ta sẽ chạy hướng ngược lại.”

 

“Đức Dục, anh,” người lính kia liền bắt lấy cánh tay y, nói, “nếu anh có mệnh hệ gì, đại nhân sẽ không bỏ mặc đâu, đừng…”

 

“Vậy bảo đại nhân bỏ ta lại!” Nguyễn Đức Dục dứt khoát đáp, rồi dẫn theo một toán khác, chạy theo một hướng, để người lính kia cùng toán còn lại chạy một hướng khác.

 

Thú vệ có đôi mắt tinh tường, bọn họ nhất định sẽ nhìn ra kẻ bọn họ muốn truy đuổi đi về đâu.

 

Trịnh gia quân đều là người thường. Dù có được luyện tập bài bản cách mấy, chiến đấu trực diện với Họa sư cũng đều là hạ sách.

 

Rõ ràng, Thú vệ bây giờ không đi tuần một cách du đãng, vô định, như những lần chạm trán trước đây.

 

Y không biết liệu có phải do cái chết của tên gián điệp được Trịnh Khuê cứu hôm trước hay không, nhưng đàn sói này như bị dồn vào đường cùng.

 

Chúng không kiểm soát lãnh thổ một cách thông thường, chúng đang cắn trả.

 

Nếu không, chúng đã không hạ sát người của y một cách tùy tiện như vậy.

 

Rốt cuộc, đã có gì diễn ra sai kế hoạch? Y không còn rõ nữa. Bây giờ đây, họ không còn có thể tự tin vào việc Thú vệ sẽ không tùy tiện giết kẻ không phải Họa sư nữa, họ chỉ còn có thể cược mạng vào, hoàn thành nốt nhiệm vụ được giao. Nếu có chết, cũng là do mệnh đã định.

 

Nhưng y chưa kịp chạy đi xa, chưa kịp cố gắng chắp vá thông tin để trả lời cho câu hỏi của chính mình, thì hai Thú vệ đã hạ xuống trước mặt, chặn đường toán của y.

 

“Công tử,” một trong hai Thú vệ lên tiếng, “đi đâu mà vội vã trong đêm thế này?”

 

Nguyễn Đức Dục đứng sững lại, nhận ra, ả ta đang nói chuyện với mình. Chỉ mình Nguyễn Đức Dục, một sự chỉ điểm rõ ràng.

 

Ả ta dường như đã rõ y là ai.

 

“Hử, Công tử Hồ Dực?” Quả nhiên, Thú vệ nói tiếp. “Hay ta phải gọi ngươi, là Tướng quân Nguyễn Đức Dục mới phải?”

 

“Nếu các vị đã biết, tại sao lại phải đuổi theo chúng ta?” Y đáp lại, cố gắng không tỏ ra sợ hãi.

 

“Cái đó thì chúng ta phải hỏi ngươi mới phải chứ?” Thú vệ lại nói, ung dung tiến lại gần. “Trịnh thị vẫn còn nghĩ mình là người Trương thị sẽ bao dung sao? Các ngươi đang làm gì ở Định Phủ thế này?”

 

“Thú vệ đại nhân có thể tự mình đi khắp Định Phủ xem?” Nguyễn Đức Dục nói. “Trịnh gia quân đang thay các vị giữ biên cương phía nam đấy.”

 

“Nhưng đây là phía bắc Định Phủ.” Thú vệ lại không quan tâm đến lý lẽ đó. “Thứ duy nhất các ngươi phải giữ ở đây là mạng mình thôi. Giả danh tính, xâm nhập vào vùng giao giữa Cương Oai, Định Phủ và Lũy Xương, ngay cạnh đường đi của Hoàng Đế. Nếu như để lộ ra các ngươi đang ở đây, đừng nói là Trịnh Khâm, Lý Tình cũng không dám bảo đảm cho các ngươi.”

 

“Vì sao?” Y hỏi vặn lại. Nếu đêm nay, Trịnh gia quân gặp hiềm nghi như vậy, thì Thú vệ cũng chẳng khá hơn. Lý thì không sao, nhưng về tình, thì Định Phủ cũng dám hỏi tội Thú vệ. Quan tài của Lưu Lam cũng mới chỉ vừa đóng mà thôi. Cỏ còn chưa kịp mọc. “Các vị cũng đang thậm thụt ở trên đất Định Phủ đấy thôi. Thú vệ đã trải sẵn đường cho xe vua chạy, vậy mà vẫn còn phải sợ lũ tôm tép như chúng ta à?”

 

Thú vệ ngay lập tức đạp ngã Nguyễn Đức Dục. Trịnh gia quân phía sau toan lao lên thì bị Thú vệ còn lại dùng Xích Thạch ghim lại xuống đất. Bọn họ rút lưỡi dao đã tẩm sẵn nước ăn mòn Xích Thạch ra, thì Thú vệ lên tiếng từ đầu đến giờ đã kề kiếm lên cổ Nguyễn Đức Dục, nói: “Mời các vị dừng tay lại. Nếu không thì vị này chỉ chết vô ích mà thôi. Còn nữa, cũng không cần phải giấu.”

 

Ả ta vừa dứt lời, một Thú vệ già khác đã thoắt hiện bên cạnh. Ông ta cởi mũ trùm đầu, giơ tờ mật báo lên mà nói: “Yên tâm. Ta chỉ cho bọn chúng ngủ một lát thôi. Nhưng nếu các ngươi không thành thật trả lời, thì ta không đảm bảo được mạng cho chúng đâu.”

 

Ông ta có một đôi mắt đỏ ngầu, và trên mỗi ngón tay của lão, là một chấm nhỏ màu đỏ son.

 

Một kẻ thao túng.

 

Ả Thú vệ nhận lấy tờ mật báo từ ông ta, sau khi đọc qua, biết được mình không biết cách giải, liền cúi xuống, nhấn mạnh đầu của Nguyễn Đức Dục xuống rồi nói: “Ngươi hỏi ta vì sao? Để ta cho ngươi biết. Mười tám Thú vệ và gián điệp Họa sư của chúng ta đã mất tích trong năm ngày qua, bắt đầu từ ngày thứ hai sau khi các ngươi tới. Bây giờ thì, trả lời tử tế cho ta biết, các ngươi liên quan gì đến lũ lưu lạc và ‘sứ giả’?” 

 

 

 

“Một Họa sư từ Họa ban phải chăng là xa xỉ với Lũy Xương quá, Đại Ngự không thấy vậy sao ạ?” Lý Tình đã nắm được lá bài, nàng vẫn giữ nụ cười, thong thả đáp lại. “Để tôi giới thiệu bà ấy với Đại Ngự nhé.”

 

Bàng Linh Hà nhướng đôi mày, tỏ ra hứng thú mà đáp: “Ồ. Vậy là vị tiền bối ấy có thật ạ?”

 

Lý Tình lại không đáp lại bà ngay, mà đứng dậy, nói câu nói nàng đã thấy mình nói trong kế hoạch cả trăm lượt, đúng bằng điệu bộ mà Phụng Hạc luôn muốn nàng dùng để giới thiệu bà ta: “Thệ sư Cương Viễn Thủy, học trò Lý Tình, xin kính mời thầy đứng dậy ạ.”

 

Bên cạnh Nguyễn Thường Hiệu, một người đàn bà già với mái đầu bạc trắng đứng dậy. Lưng bà thẳng tắp, khí phách quý tộc thanh tao, dù trông bà hẳn đã hơn tám mươi tuổi. Chẳng trách, Bàng Linh Hà còn tưởng bà ta là người của một trong sáu đại gia tộc Lũy Xương.

 

Người đàn bà già quay sang phía Đại Ngự thị, mở đôi mắt đen xám đã hơi mờ đục, gương mặt khắc nên một nụ cười ý nhị duyên dáng, cho thấy rằng hẳn khi còn trẻ, bà ta hẳn là một quý tộc đài các, rồi cung kính đáp: “Cương Viễn Thủy, làm viên thí nghiệm, thính ký ở Họa ban từ năm Bình Dương thứ hai mươi ba đến năm Bình Dương thứ hai mươi bảy, sau khi Vĩnh Tông cải tổ Họa ban đâm ra không còn được trọng dụng, chỉ là kẻ bất tài may sao được Lũy Xương vương cưu mang, xin được diện kiến Đại Ngự Linh Hà.”

 

Phụng Hạc, là một Họa sư có khả năng kiểm soát và điều khiển thượng thừa. Nhưng bà ta không dùng nó để tạo ra Xích Thạch khắc thơ tuyệt đỉnh như Lý Tình. Bà trau chuốt một “Xích Thạch” khác. Cơ thể. Máu, và xương. Da, và thịt.

 

 

 

“Nói đi.” Giữa vòm trời lộng gió biển, Thú vệ đã càng ngày càng mất kiên nhẫn. Ả ta cảm thấy họ đang bị theo dõi ngay lúc này, đang bị lũ sói hoang dã khóa chặt từ trong những góc khuất. Ả ta nôn nóng dồn sức vào bàn tay, bóp thật chặt đầu Nguyễn Đức Dục mà tra hỏi. “Hay ngươi muốn ta gửi tặng đầu của tất cả các ngươi cho Trịnh Khâm, ngay trước mặt Hoàng Đế và Hoàng hựu? Các ngươi không đang bảo vệ tướng quân và chủ nhân của mình bằng sự im lặng đâu. Nếu Thú vệ muốn, xác các ngươi có thể từ người thường biến thành Họa sư đấy. Có muốn thử xem Hoàng hựu sẽ làm gì với kẻ bề tôi cũ ngu xuẩn như Trịnh Khâm không? Có muốn thử xem Triều Đình dám hỏi tội Lũy Xương vương phủ không không?”

 

“Các ngươi… đã có mọi thứ rồi.” Gân xanh mạch máu trên cổ Nguyễn Đức Dục gồng lên, y gằn giọng nói trong cơn đau và sức nóng đáng sợ của những mao mạch đang vỡ trước sức mạnh phi lý của Thú vệ. “Trịnh gia quân đến đây theo lời hiệu triệu của Thái tử! Giết chúng ta đi, để xem ai là kẻ phản trắc!”

 

 

 

 

Đại điện vương phủ Lũy Xương vang tiếng nói cười.

 

Trịnh Khuê gần như ngay lập tức ngẩng đầu ngỡ ngàng khi những người lớn xung quanh ngay lập tức cất lời mừng phụ họa cho màn ra mắt của Phụng Hạc. Chính cô bé còn không hề nhận ra đó là thầy của mình. Các vị gia chủ cùng những người lớn ngồi cùng mâm ấy, hóa ra đã ngồi cùng Phụng Hạc trong một cái lốt ngoài xa lạ, vậy mà họ còn diễn như họ đã quen biết người đàn bà ấy từ lâu.

 

Tất cả mọi người, đều như bỏ lại Trịnh Khuê phía sau, mà biết rõ màn kịch nguy hiểm này, và đang diễn theo nó. 

 

Như thể Thệ sư Cương Viễn Thủy đã ở đây rất lâu rồi.

 

Bàng Linh Hà cũng dường như hoàn toàn bị thuyết phục bởi sân khấu công phu này. Bà ta ngay lập tức tự mình đứng dậy, hành lễ chào “Cương Viễn Thủy”: “Hậu bối Linh Hà xin được diện kiến Cương tiền bối. Thật không ngờ lại có cơ duyên được gặp một Thệ sư thọ hàng cửu thập như vậy, lại còn mang họ Cương. Quả là khiến con mở mang tầm mắt rồi. Kính chúc tiền bối thọ thêm như núi, xin tiền bối thứ cho con không thể kính rượu.”

 

“Lão bà tôi nào dám nhận chữ “con” này của Đại Ngự ạ.” “Cương Viễn Thủy” rất già, nhưng bà ta “từng là Thệ sư của Họa ban”, bà ta vẫn còn rất tinh tường, ngay lập tức cất giọng khàn khàn dính dính của người già mà đáp. “Tôi có cơ may được Vĩnh Tông ban cho thần huyết mới sống mòn được đến bây giờ. Vậy mà Bình Dương gia đã đi xa, Hoàng tộc xảy ra bao nhiêu biến cố, vậy mà tôi mang ân huệ ấy, chỉ có thể hấp hối trên đời mà làm một kẻ dạy chữ. Chỉ là một kẻ hèn nhát kém cỏi mà thôi. Năm xưa học trò Lý Hiển không may mệnh đoản, tôi cũng chẳng thể làm gì hơn ngoài giúp nó ra đi bớt đớn đau. Nay học trò Lý Tình thành chư hầu một cõi, tôi cũng chỉ còn chút sức mọn, dùng để cổ vũ con trẻ mà thôi.”

 

Bàng Linh Hà lại không hề nao núng hay bất ngờ trước lời này, rất chí tình chí lý mà vừa vái lạy vừa nói: “Xin thầy hãy ngồi lại chỗ ạ. Thảo nào Duật Hoàng lại tri thư đạt lễ, làm Linh Hà kính phục đến vậy, hóa ra là nhờ có người thầy như vậy. Người xưa dạy thầy của bạn cũng là thầy của mình, thầy đã là thầy của Duật Hoàng, vậy xin hãy nhận của Linh Hà một lạy.”

 

“Cương Viễn Thủy” chậm chạp đưa tay vái lạy lại, đáp: “Tôi xin cung kính, vì học trò mà nhận lạy này, cũng thay học trò, lạy lại Đại Ngự.”

 

Bàng Linh Hà đã đi vào nước đi hẹp. 

 

Phụng Hạc dùng một họ “Cương”, khiến bà ta không thể dò xét thêm.

 

Cương thị đúng là có Thệ sư trong Họa ban, là họ được ban cho nhiều Thệ sư trong triều nhất.

 

“Cương Viễn Thủy” lại còn là viên thính ký, thí nghiệm vào những năm cuối đời Vĩnh Tông Hoàng Đế, khi ấy hàng trăm Thệ sư, Họa sư của Họa ban đã bị cho thôi chức, chứ đừng nói đến một chức nhỏ và bí mật không mấy người biết hết nhân sự như vậy. Bàng Linh Hà khi ấy chỉ vừa biết nói, dù bà ta có là Đại Tôn bà Phụng Lĩnh tái thế, cũng không thể xác minh.

 

Sau khi qua lại vài lời lễ độ, sau khi Trịnh Liên phải thay chồng “hòa giải” cho “thầy xưa” và “bạn cũ” của Lý Duật Hoàng, cả hai mới đành ngồi lại về vị trí, tiếp tục bữa tiệc đã bắt đầu nhạt mồm.

 

 

 

An Dung vẫn đang vù vù gió thổi. 

 

Nguyễn Đức Dục cược không hẳn là sai. Thú vệ còn phải nhìn mặt Lưu Thương.

 

Ngay từ ban đầu, Lưu Thương đã tấu lên Triều Đình sự thật về cái chết của Lưu Lam rồi. Nước cờ ấy trói chân bọn họ.

 

Không ai dám điều tra kỹ cả. Nhưng không tra kỹ thì lại để người bắt được đuôi.

 

Chính ả Thú vệ trước mặt cũng không biết chính xác những gì chỉ huy và Triều Đình đang nghĩ.

 

Nhưng kẻ gây ra được cái chết của Lưu Lam phải là một Họa Huyết sư hùng mạnh. Một Họa Huyết sư có phong cách chiến đấu giống hệt chỉ huy Trương Nguyên.

 

Họa sư ấy có phải chính Trương Nguyên hay không? Hay đó là ai khác?

 

Liệu Hoàng hựu hay Trương Thái úy có liên quan hay không?

 

Lưu Thương đã không tra xét, để lại cho họ mặt mũi.

 

Giả như Triều Đình và Thú vệ thực sự liên quan, vậy Lưu Thương đang cho kẻ thủ ác một đường lui.

 

Còn nếu Thú vệ không liên quan, vậy họ đã để Thái tử bị ám sát bởi Họa thuật ngay trong phiên tuần tra của mình tại phía nam, vậy Lưu Thương đang để kẻ bất tài một đường sống.

 

Bọn họ đang ở thế mắc nợ. Mắc nợ với Thái tử vừa được sắc phong.

 

Không thể hành động ngu dốt vào lúc này.

 

Nhưng bỏ qua cũng là ngu dốt.

 

Ả Thú vệ nắm tóc Nguyễn Đức Dục mà kéo y dậy, nói: “Được. Vậy ta không giết các ngươi. Nhưng Trịnh gia quân giả trang thâm nhập vào vùng nhạy cảm, lại chạy trốn khỏi Thú vệ. Ngục của chúng ta còn chỗ cho các ngươi đấy.”

 

“Xem ra chỗ trống trong Hắc Diệm ngục của các vị, nên để trống tiếp thì hơn.” đột ngột, một thanh âm lành lạnh vang lên, rồi hạ xuống từ trên không. “Lý Cô Vụ đại nhân, cô ra tay với khách của Định Phủ ta nặng quá đấy.”

 

Thú vệ xung quanh ngay lập tức phải lộ diện từ trong bóng tối. Lý Cô Vụ cũng buông Nguyễn Đức Dục ra, ngoan ngoãn quỳ xuống trước anh mà chào: “Chúng thần, xin diện kiến hoàng tự Lưu Thanh.” 

 

 

 

Sau một khoảng đã vừa đủ lâu, để đại điện Lũy Xương vương phủ bắt đầu lâm vào im lặng, khi ai nấy đều biết rõ tiệc đã tàn, Lý Tình liền cầm chén rượu vẫn ban nãy chưa uống khi kính Đại Ngự lên, chỉ liếc qua “Cương Viễn Thủy” một chớp mắt, rồi hướng về phía các công tử, công nữ bên dưới mà nói: “Hôm nay cảm ơn chư quân đã đến chúc mừng Lý Tình. Trước khi tiếp tục, đầu tiên, ta xin phép chư vị ở đây, gửi một lời chia buồn tới anh linh Thái tử Lưu Bá Tiêu, mong rằng, Sói sẽ dẫn đường cho Ngài về nhà. Rượu này, là ta kính Ngài ấy. Dù rằng từ phương xa không thể viếng thăm, cũng mong qua chén rượu này, tới được quân.” Nói rồi, nàng uống một hơi cạn chén rượu, cũng là chén thứ hai nàng uống trong buổi đêm nay. Rồi nàng lại lên tiếng. “Tiếp theo, là xin phép chư quân ở đây, nhân có Đại Ngự chứng giám, xen chút việc công tư vào bữa tiệc này.”

 

Chính Trịnh Liên cũng không ngờ đến, giật mình ngẩng đầu nhìn con. Bàng Linh Hà để ý thấy phản ứng này của bà.

 

Chỉ có Dương Mục là vẫn như không, còn tất cả những người còn lại đều chăm chú lắng nghe từng lời Lý Tình chuẩn bị nói.

 

“Năm ngoái phía nam có biến, Lũy Xương tương trợ Định Phủ, công lớn nhất, là Dương An thủ vệ của chỉ huy Đặng Duy Lan, em chồng của Lê đại đương gia.” Nàng vừa dứt lời, Lê Phỉ Hiền đứng dậy nhận lệnh. Lý Tình liền nói tiếp: “Năm nay Lê Hiện công tử thành gia với Đinh công nữ, Lý thị cầu chúc hai nhà tiếp tục mối hòa hảo, để giúp Lý Tình, trông coi cảng lớn Túc Anh sắp được xây dựng ở Thực An, Cước Sơn. Nếu như hai năm tới, cảng có thể xây xong, thì cả Lũy Xương và Định Phủ đều sẽ được nhờ.”

 

Đinh Hoan và Lê Hiện ngay lập tức đứng dậy, Đinh Diễn và Lê Phỉ Hiền cũng đứng ra khỏi chỗ, cùng hai con bái lạy: “Chúng tôi xin nhận lệnh, tuyệt đối sẽ không làm Vương và Triều Đình thất vọng.”

 

Lý Tình đưa tay ra hiệu cho họ ngồi xuống, rồi nói tiếp: “Nhân việc vui của hai nhà Đinh, Lê, Lý Tình còn có việc tư muốn gửi gắm.” Nàng ngừng lại một chút, rồi khẽ nhắm mắt lại hít thật sâu, khi mở mắt ra, liền lên tiếng, cả một chuỗi động không hề liếc đến Phạm Minh Quang một lần. “Ta có một người, coi như anh trai trong nhà, nay đã tròn hai mươi tuổi, tên tự cũng đã có, cũng nên thành công danh, thành gia thất rồi.”

 

Phạm Minh Quang vẫn luôn nhìn nàng, bấy giờ đã đẫm mồ hôi lạnh. Y cố nhịn hết sức, nếu không hẳn mắt đã đỏ ửng lên.

 

Mẹ nói Lý Tình cũng đã cố buông tay rồi. Y biết, y hiểu rõ. Nhưng con tim vẫn nhói đau.

 

Làm sao y có thể không hiểu sự né tránh của Lý Tình? Y là người hiểu nàng nhất.

 

Nhưng y cũng hèn nhát, không dám tin vào sự quyết tuyệt nàng có thể đưa ra.

 

Tình… Hóa ra, nàng nếu quyết tâm, nói buông là có thể buông được. Hoặc Phạm Minh Quang cũng chỉ đến vậy, không thể lay chuyển Lý thị đến mức ấy.  

 

“Tổng Chỉ huy Phan Lạng đã có tuổi, xin ta cho lui thân từ lâu, nay ta chuẩn cho ông, cũng trao cho Phạm công tử chức Tổng Chỉ huy Thủ vệ Phương Tiên, ấy là cho anh cơ hội lập công danh.” Bấy giờ, Lý Tình mới nhìn y, trong ánh mắt lạnh toát, không có chút tư tình. “Nguyễn Giám huyện mới về nhậm chức, Lý Tình chưa kịp chúc mừng. Nguyễn Hòa công nữ, nay ta kết mối lương duyên giữa hai nhà Phạm, Nguyễn, chị có thể thay người thông gia này, giúp ta gửi lời chúc mừng không?”

 

Lý Tình vừa dứt lời, Phạm Ngọc Trác cùng Nguyễn Chinh đều đứng dậy, Nguyễn Hòa cũng vội vàng đứng dậy theo cha. Thậm chí, cô cũng là người nhận ra sự ngơ ngác của Phạm Minh Quang, mà tự tay kéo y đứng dậy.

 

Chỉ sau khi cả ba người nọ đã lạy tạ xong, Phạm Minh Quang mới kịp phản ứng. 

 

Y do dự rất lâu, rồi liền phất vạt áo, quỳ xuống, hướng về phía Lý Tình, dập đầu nói: “Phạm Nhật Chiếu, xin cảm tạ Vương ban ân.”

 

 

 

Lưu Thanh tiến đến, tự mình đỡ Nguyễn Đức Dục dậy, nói với Thú vệ già: “Ngài Trương Chi Mai, có thể dừng tay và trả cho Thanh toàn bộ khách của Định Phủ chứ ạ?”

 

Thú vệ già vẫn đang quỳ, chỉ nhanh chóng, kính cẩn đáp: “Thưa hoàng tự, việc này, Chi Mai không tự quyết được ạ.”

 

“Nếu là Thanh quyết thì sao? Trương Chi Mai đại nhân đã gọi ta một tiếng hoàng tự, thì lệnh của ta cũng đủ để ngài tuân theo rồi chứ? Hay phải đích thân anh trai ta tới đây, ngài mới dám thả người?”

 

“Thưa hoàng tự, việc tuần tra và truy quét phía nam là lệnh từ ba đồng cấp chỉ huy, cũng là lệnh từ Thái úy ạ.” Lý Cô Vụ bèn nói.

 

“Vậy thì gọi Trương Nguyên, Trương Xiển và Cao Phương Lê tới đây.” Lưu Thanh lại đáp. “Các người tuần sát trên địa phận Định Phủ, bắt người mà Lũy Xương ủy thác cho Định Phủ, kháng lệnh Thái tử, kháng lệnh Định Phủ vương, nếu các ngươi thấy tội này chưa đủ nặng, thì cứ việc để chỉ huy các ngươi và Thái úy cùng ta đối chất. Trương Thái úy ngoài mặt nói rằng muốn Định Phủ cùng gánh vác giang sơn, vừa quay đầu đã muốn đạp lên mặt ta và hôn thê của ta một nhát rồi à?”

 

Lưu Thanh trực tiếp nhắc đến hôn ước giữa Lý Tình và mình, Thú vệ liền cúi đầu càng sâu.

 

Lý Cô Vụ cắn răng. Ả không cam lòng, cố gắng chất vấn một lần nữa: “Xin hoàng tự, nếu như đây là lệnh, hãy để Thái tử, hoặc Hoàng hựu, hoặc đích thân Bệ hạ ra lệnh cho chúng thần. Để chúng thần có thể ngẩng cao đầu mà báo cáo với chỉ huy. Nếu nhiệm vụ có sai sót, vậy chúng thần cũng phải rơi đầu. Đã đành là kẻ mạng không bằng cỏ rác, cũng muốn chết rõ ràng minh bạch ạ.”

 

 

 

Đợi khi Phạm gia và Nguyễn gia cùng về chỗ, Bàng Linh Hà mới cất lời: “Quả đều là mối lương duyên. Lý Vương sắp đặt thật khéo. Như thế này thì, có lẽ hai năm nữa, Linh Hà còn được mời tới mừng cảng mới, rồi cùng mừng lễ thôi nôi.” Rồi, bà ta lại cười nói với Lý Tình vẫn đang đứng. “Vừa hay, trước khi đi, Bệ hạ cũng nhẩm tính thấy Vương đã mười hai rồi, cũng bằng độ tuổi khi Bệ hạ và Hoàng hựu thành hôn. Vốn trước đây hai nhà Lưu Lý đã có ước hẹn, nhưng bây giờ mà để Lũy Xương đợi năm năm theo Định Phủ rồi mới có Thế tử thì lại chậm quá. Bệ hạ nói với Linh Hà một ý, trước đấy Linh Hà không thấy dịp, bây giờ lại thấy vừa xinh. Vương, ngài thấy Nguyễn Ngọc Phiến thế nào ạ? Vốn bây giờ ngài ấy cũng đang là một hoàng tự, nhưng đến làm rể Lũy Xương, phải người như vậy mới xứng đáng chứ ạ? Vừa là cháu họ bên ngoại của Tiên Đế, vừa là cháu bên nội của Hoàng hựu, lại là chắt ruột của Viên Tông. Đẹp nhất là lại đang mười bốn.”

 

Lý Tình không ngay lập tức đáp lời.

 

Trương Thái úy, cũng quả thực là người không nể tình.

 

Đây là hôn sự của Lý gia và Lưu gia Định Phủ, là lời đã hứa từ đời cha mẹ, chứ không phải từ trên trời rơi xuống. Ấy vậy mà bạn thanh mai trúc mã của Lưu Thương như Trương Thái úy, lại nói muốn hủy là hủy, muốn hoãn là hoãn.

 

Lại còn dùng Bệ hạ để ép lời.

 

Lần đầu tiên từ khi yến tiệc mở, Lý Tình nhìn Dương Mục.

 

Ông vẫn không nói gì. Dương Thanh Vân, như thể một bóng ma, cả yến tiệc này không ám được chút hương rượu lên áng mây xanh của ngài.

 

Trịnh Liên dường như muốn nói gì đó, nhưng Lý Tình không định để bà phải gánh thêm gánh nặng nào nữa cả.

 

Phụng Hạc cũng đã ngờ trước về Nguyễn Ngọc Phiến, nhưng bà ta đã nghĩ đó là hôn phu dành cho Trịnh Khuê.

 

Nên bà ta mới vội vã muốn đẩy Trịnh Khuê đến Định Phủ cho Lưu Dã.

 

Thật ngu xuẩn.

 

Phụng Hạc và Trịnh Liên rất giống nhau ở một điểm. Cả hai người đều coi nàng là đứa trẻ, nên họ nghĩ nàng sẽ vâng lời và lạc lối khi không có họ.

 

“Bệ hạ lo nghĩ cho người kế vị của Lũy Xương, thật là vinh dự của Lý Tình.” Nàng cười nói, rót cho mình chén rượu thứ ba, rồi đưa lên, dõng dạc. “Chư quân, việc công cuối cùng ta muốn cùng chư quân nói ngày hôm nay, là về Thế tử của Lũy Xương. Lý Tình từ nhỏ đã mang bệnh, không chắc có thể hưởng phúc bao lâu cùng chư quân, không dám để chư quân phải lo lắng nhiều. Mẹ ta cùng cậu ta cũng đã vì cha ta, vì ta mà gánh vác Lũy Xương bao nhiêu lâu. Trịnh thị, xứng đáng có được sự công nhận của toàn Lũy Xương này. Khuê, em tiến lên, cho Đại Ngự nhìn rõ.”

 

Trịnh Khuê vẫn chưa hết ngỡ ngàng trước quyết định của Lý Tình dành cho Phạm Minh Quang, lại nghe chị gọi, không hề kịp suy nghĩ gì mà chỉ vội vã đứng dậy, ngơ ngác, nhưng cũng ưỡn ngực thẳng lưng, tiến lên phía trước.

 

Bàng Linh Hà nghe theo lời Lý Tình mà nhìn Trịnh Khuê thật kỹ.

 

Trịnh Liên hay Phụng Hạc, đều đã siết chặt nắm tay.

 

Lý Tình rất thông minh, họ đều biết vậy. Chỉ cần nó nghĩ cái gì là đúng, nó sẽ bất chấp mà làm. Rất khó để thay đổi suy nghĩ của nó. Nên giờ đây, họ không thể nói, mà chỉ có thể cầu nguyện, rằng đứa trẻ họ nuôi nấng sẽ không đi quá xa khỏi dự đoán của họ.

 

Nhưng lần này, họ không gặp may rồi.

 

Ít nhất, Phụng Hạc đã nhầm to.

 

“Em họ ta, Trịnh Khuê, sẽ là người kế vị của ta, Thế tử Lũy Xương.” Lý Tình nói, rồi uống cạn chén rượu. “Chén này, là ta kính lên Lang mẫu, xin Người chứng giám cho ta. Sau khi ta chết, Khuê sẽ đổi về họ Lý, thay ta, tiếp tục trị vì Lũy Xương. Lý Tình sẽ quyết làm tròn lời thề với Định Phủ, còn hồng ân mà Bệ hạ ban tặng, ta xin Đại Ngự thị truyền lời, Lý Tình, xin nối mối duyên cho tân Thế tử Lũy Xương.”

 

 

 

Lưu Thanh đẩy Nguyễn Đức Dục ra đằng sau mình. Anh biết nếu anh Thương biết, sẽ tức giận, sẽ khó xử. Nhưng đây là lời hứa anh đã hứa với Trịnh Khâm, anh phải hoàn thành bằng được.

 

Dù sau này Lưu Thương có muốn từ mặt anh đi nữa, anh cũng phải làm.

 

Lưu Thanh tiến lên, nhìn xuống Thú vệ bằng nửa con mắt, nói: “Lời ta nói, chính là lệnh của Thái tử.” Rồi, anh đưa ra lệnh bài của Lưu Thương, lệnh bài anh đã lấy trộm, ném xuống trước mặt Thú vệ. “Các ngươi đang nói chuyện với chính Thái tử Đại Bàng đây.”

 

Đến nước này, Thú vệ không thể nói gì nữa.

 

Bọn họ là chó săn, Hoàng tộc là chủ của bọn họ.

 

Dù là ba vị chỉ huy, dù là chính Trương Thái úy, cũng không thể phản bác lệnh của Thái tử. Nhất là khi Thái tử còn đang ở ngay cạnh Hoàng đế.

 

Chỉ cần Lưu Thương nói, Bàng Dực chắc chắn sẽ gật đầu.

 

Lý Cô Vụ dập đầu, nhẫn nhục nói: “Chúng thần xin tuân lệnh.”

 

Trương Chi Mai ngay lập tức đứng dậy, theo lệnh trực tiếp của chỉ huy đội Lý Cô Vụ, thừa lệnh của Thái tử, đi thả người.

 

Lưu Thanh nhặt lại lệnh bài, rồi tiện tay kéo Lý Cô Vụ đứng dậy.

 

Anh cũng không nhiều lời với Thú vệ, chỉ quay lại nói với Nguyễn Đức Dục: “Vết thương của anh không quá nặng, trong đêm nay rạng sáng mai, quay về Lũy Xương đi. Nói với Lý Tình, phía nam Định Phủ, chúng ta cảm ơn nàng, nhưng còn phía bắc, từ giờ Định Phủ có thể tự lo.”

 

Nguyễn Đức Dục ngay lập tức cùng các anh em đã kéo nhau đứng dậy chắp tay hành lễ nói: “Xin cảm tạ ân cứu mạng của công tử.”

 

“Đừng nói vậy. Đây là trách nhiệm của vương phủ Định Phủ ta.”

 

Lý Cô Vụ đứng đằng sau nghe họ nói vậy, sau khi nhìn thấy Trương Chi Mai đã quay về cùng toán Trịnh gia quân còn lại, liền quay người định dẫn đội rời đi.

 

Nhưng ả ta cùng Thú vệ bên cạnh mới chỉ vừa đưa chân, thì một cọc đỏ như máu đâm theo một vật rất lớn phi đến từ trên trời, cắm phập vào mặt đất ngay trước mũi giày họ!

 

Thú vệ xung quanh và Lưu Thanh đều cảnh giác quay lại chuẩn bị ứng chiến.

 

Có mùi trong gió. Là Họa Huyết thuật.

 

Nhưng đây không phải một trận chiến.

 

Cái cọc Xích Thạch vừa phi xuống không chỉ là một cái cọc không, nó xuyên qua một thân thể.

 

Một Thú vệ, còn mặc nguyên áo choàng đen trên người.

 

Trên con đường trước mặt họ, liên tiếp, những cọc xuyên xác người trút xuống.

 

Mười tám Thú vệ đang biến mất, sáu Họa sư đã theo lệnh Thú vệ trà trộn vào dân gian để theo dõi và tố cáo những kẻ lưu lạc đã lẩn trốn, cùng với những thi thể lạ.

 

Đây là một yến tiệc.

 

Được những kẻ lưu lạc bày ra cho tất cả xem.

 

Bọn họ không chỉ bày ra xác kẻ thù.

 

Bọn họ còn bày ra cả thi thể những người đã ngã xuống để săn lùng Thú vệ.

 

Để cho tất cả cùng biết.

 

Họa Huyết thuật, cũng chỉ đến thế. Họa sư cũng là người thường.

 

Vũ Văn Giang đã gào lên rằng Hồng thủy đang tới.

 

Nhưng không cần trời phải giáng nó xuống. Chính tay những đứa con lưu lạc của Sói sẽ trình yến tiệc lên, cúng lên Người.

 

 

 

Phụng Hạc đã bị lừa.

 

Bà ta đã tưởng chính mình hiểu được Lý Tình.

 

Nhưng bà đã đùa giỡn quá bất cẩn trên vảy ngược của nó.

 

Bà tưởng rằng dùng “lời hứa”, bà có thể trói buộc Lý Tình.

 

Nhưng bà cũng chỉ giống như Trịnh Liên, đã nhầm Lý Tình với đứa con ngoan nào đó.

 

Chính bà đã dạy nó sự tàn nhẫn và lật lọng.

 

Lý Tình là học trò của bà, đương nhiên nó học được điều đó.

 

Phụng Hạc lấy cái tên này, chọn cái tên này, để xích chính sự hoang dại của mình lại. Nhưng bà vẫn là một kẻ nổi loạn.

 

Bà cố thao túng và xiềng xích Lý Hiển, rồi đến Lý Tình, nhưng bà vẫn là một kẻ nổi loạn, nên bà cũng chỉ toàn dạy ra kẻ nổi loạn.

 

Nhưng thế thì cũng không sao.

 

Bà cũng sẵn sàng tàn nhẫn với kẻ tàn nhẫn.

 

Bàng Linh Hà nghe xong lời tuyên bố của Lý Tình, bèn đứng dậy, định nói gì đó. Nhưng, trong khoảnh khắc, bà ta thấy được thứ vụt qua nơi khóe mắt, theo phản xạ nhanh như chớp, liền nhảy về phía sau.

 

Né đi cái cọc đỏ au đang phi tới!

 

Nhưng thanh Xích Thạch ấy không nhắm vào bà ta.

 

Nó hướng về thân ảnh bên cạnh.

 

Gần như trong khoảnh khắc nó sắp đâm vào lồng ngực Lý Tình, Bàng Linh Hà nhận ra sai lầm của trực giác, ngay lập tức vụt tới, ôm lấy đứa trẻ tránh khỏi thanh cọc máu.

 

Nhưng khi bà ta ngẩng dậy, cả đại điện im lặng trong sự bàng hoàng.

 

Ngay trước cửa lớn chính điện, một hàng cọc dài đã được bày biện ngay ngắn.

 

Năm Thú vệ đi dò xét nội thành Phương Tiên đêm qua đã chết. Thi hài họ được trả lại cho Đại Ngự, với những cọc Xích Thạch xuyên qua lồng ngực.

 

Bàng Linh Hà nhìn qua đứa trẻ đang chết lặng trong lồng ngực, không biết là vì quá sợ hãi hay là vì gì khác.

 

Bà ta ôm nó lên, trả lại cho Trịnh Giải Ưu đang hoảng hốt nhào đến bên con, rồi nhảy xuống, đi tới bên cạnh thi thể của những người đi theo mình.

 

Một Thú vệ khác nhanh chóng tiến đến, thưa với bà ta: “Linh Hà đại nhân, ngài, sẽ muốn thấy bên ngoài đường đấy ạ.”

 

“Làm sao?” Bà ta hỏi.

 

“Các anh chị em đã hy sinh khi làm nhiệm vụ, và cả những kẻ lưu lạc, bọn họ đang... như thế này, khắp ngoài đường lớn rồi.”

 

Phụng Hạc đã nói bà có một yến tiệc.

 

Bà không lật lọng về điều này.

 

Đêm nay trăng đã tròn rồi.

 

Đây là yến tiệc họ kính lên Sói.

 

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

 

Lời tác giả:

 

Hạ trú nhật: “夏晝日”, tức mặt trời buổi trưa mùa hè.

 

Họa ban: một trong ba ban (xem lại chú thích về Ngoại Đình chương 2). Họa “” trong “Họa Huyết” (tức là vẽ). Họa ban là ban phụ trách giám định và giáo dục những hoàng tộc sử dụng được Họa Huyết thuật, nghiên cứu và phát triển Họa Huyết thuật.

 

Vĩnh Tông, Bình Dương gia: Bình Dương là niên hiệu dưới thời Vĩnh Tông Hoàng Đế, gọi Bình Dương gia cũng là gọi Vĩnh Tông.

 

Đại tôn bà Phụng Lĩnh: là một trong ba Họa sư đầu tiên cùng Thái Tổ chinh chiến trước cả khi Đại Bàng được thành lập. Bà được cho là Họa sư duy nhất đạt được năng lực “độc tâm”, tức là dùng Họa thuật để đọc tâm trí người khác (telepathy). Năng lực này có thật hay không vẫn chưa chứng thực được. Họ của bà, cùng với họ Trương, họ Cương, họ Cao, là những họ phổ biến được các Họa sư chọn.

 

Hắc Diệm ngục: “黑焰獄”, tức lao ngục Hắc Diệm (hắc diệm là ngọn lửa màu đen), là lao ngục của riêng Thú vệ, nhốt những Họa sư hoặc Thệ sư được cho là không chính thống hoặc phản trắc. Lao ngục này được phủ một lớp Xích Thạch đen lâu năm, nhằm đảm bảo Họa sư bị nhốt bên trong không thể phá ngục ra ngoài.

 

Hoàng tự: “皇嗣”, phân biệt với hoàng tử “皇子”, mang nghĩa người kế thừa của hoàng tộc (tự trong “kế tự”). Ở Đại Bàng, những người được chỉ định là mang dòng máu hoàng tộc và được giám định là một Họa sư chính thống đều có quyền được tham gia hàng chờ kế vị, những người này, nếu không rút khỏi chính trường và duy trì quyền kế vị ấy, đều được gọi là “hoàng tự”. Riêng con cái trực hệ của Hoàng Đế thì được mặc định là "hoàng tự". Hoàng tự nam thì gọi là hoàng tử (chính là hoàng tử bình thường, được nêu ngay bên trên), hoàng tự nữ thì gọi là hoàng nữ.

 

Phạm Nhật Chiếu: Nhật Chiếu “日炤” (lưu ý “chiếu” là “chiếu” mang bộ hỏa, không phải bộ nhật), tên tự của Minh Quang.

 

Phụng Hạc: “奉嗃”, phụng là họ Phụng, cũng là phụng trong “phụng sự”, hạc “” nghĩa là nghiêm khắc, cũng có lúc Phụng Hạc tự viết thành “”, mang nghĩa suối cạn.

 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Chương 0: Đỏ mắt

Chương 2: Phi vân

Chương 4: Hoán diện