Chương 10: Kẹo ngọt
An Dung là một trong hai huyện hiếm hoi giáp biển của Định Phủ.
---------------------
Trịnh Khuê luôn nhớ An Dung là một nơi đông đúc nhộn nhịp. Từ Lũy Xương đến
Định Phủ bằng đường biển có hai con đường, một là xuôi nam xuống bến Sùng La ở
huyện Huy Dung, một trong bảy huyện biên thùy, hai là ngược bắc xuống bến An
Dung của huyện An Dung.
Nhưng Huy Dung rất khắt khe. Chỉ cần xuống bến, sẽ có binh lính kiểm tra nghiêm
ngặt, hỏi dò, khám xét.
Không phải Trịnh Khuê không thích Huy Dung. Cô thích những đoàn quân bụi bặm và
ngầu cháy của biên cương Định Phủ, cô cũng thích những khu chợ hiếm hoi có cả
người ngoại bang phương nam buôn bán, đặc biệt là những món đồ thủ công vàng
ngọc, khắc bò và vũ công, và chim đầu người của họ. Ở Đại Bàng, chỉ có Sói là
được thờ cúng, và người thường, không phải Hoàng tộc, thì không được đeo trang
sức hình Sói. Hơn nữa, Đại Bàng cũng ưa bạc hơn vàng, và đá quý duy nhất trong
mắt họ là Xích Thạch, những thứ đá màu sắc khác chỉ là đá cuội mà thôi. Vậy nên
phiên chợ có cả những món đồ ngoại bang luôn là nơi yêu thích của Trịnh Khuê,
dù hai năm vừa rồi không có phiên chợ kiểu ấy nữa.
Chiến tranh. Bố, bác, chị và anh Quang đều nói vậy. Trịnh Khuê nghĩ họ hơi cứng
nhắc quá. Những món trang sức đâu biết đâm chém, còn thương nhân thì cũng chỉ
muốn kiếm tiền thôi mà. Thợ thủ công thì còn không mong gì hơn có bữa cơm ăn. Tại
sao lại phải cấm đoán đến mức đó chứ?
Vậy nên Trịnh Khuê có cảm xúc phức tạp với Huy Dung, cô sẽ nói vậy. Một nơi vừa
thú vị, vừa quá đỗi cứng nhắc thiếu linh hoạt, giống như thế giới của người lớn
vậy. Một kho báu lấp lánh muôn màu đóng trong cái hòm khóa trăm cái khóa.
Còn An Dung thì đơn giản hơn.
Giống như cái tên An Dung của nó, giống như cách cảng biển duy nhất của nó được
đặt tên bằng chính tên của nó, An Dung rất đơn giản. Như một viên kẹo vậy. Bên
ngoài ngọt, bên trong cũng ngọt, ngoài cứng, trong cũng cứng, và chẳng bao giờ
có khóa cả.
Nhưng hình như lần này lại có hơi khang khác.
Chẳng hiểu sao, khi Trịnh Khuê nhảy phốc xuống thuyền như mọi khi lại có binh
lính đến hỏi.
“Công nữ từ đâu tới vậy?” Người lính hỏi, tay đang cầm một cuốn sổ ghi chép,
bút lông chấm sẵn mực.
Trịnh Khuê ngơ người một lúc.
Khác quá vậy!
“Sao hôm nay mọi người lại phải ghi chép vậy?” Nguyễn Đức Dục đang chỉ huy các
anh em neo đậu, chưa đi tới nơi, Trịnh Khuê không biết phải khai ra sao nên
đành cười cười đánh trống lảng câu giờ.
“Công vụ bây giờ nhạy cảm lắm ạ. Mời công nữ cho bọn tôi biết tên tuổi và nơi
chốn ạ.” Người lính đáp gọn ghẽ, không có lấy một chút xao nhãng.
“Em có mang giấy thông hành đó ạ, chút nữa anh em sẽ đưa cho mọi người.” Trịnh
Khuê cố giấu mồ hôi lạnh đang luồn xuống lưng, cố nhớ xem cha và Nguyễn phó
tướng có dặn mình nói gì không.
“Có giấy thông hành sao ạ? Công nữ tới đây buôn bán gì ạ?” Người lính nghe vậy,
lại càng nghiêm túc hơn, lật lật sổ chuyển sang trang khác, liếm nhẹ đầu bút
cho mực không khô, rồi lại sẵn sàng hỏi cung hơn. “Cho tôi biết tên và địa chỉ
cửa hàng nữa nhé ạ.”
Trịnh Khuê không biết đâu!
“Anh em sắp xuống rồi đó ạ.” Cô mặt không đổi sắc, quyết tâm giữ vững nụ cười,
không khuất phục trước lời hỏi cung. “Em hay quên lắm, toàn bị anh ấy mắng vì
nói nhầm thôi ạ.”
Người lính nghe vậy, hình như cũng hơi xuôi xuôi, nghĩ rằng ép hỏi một đứa nhóc
nghịch ngợm mười một mười hai tuổi cũng không đúng lắm, nên bèn hạ sổ bút
xuống, ngước lên nhìn quanh.
“Công tử đâu ạ?” Người lính vừa nheo mắt tìm trong đám đông xuống thuyền, vừa
hỏi.
Trịnh Khuê cũng nhìn theo, cố gắng nhìn xem Nguyễn Đức Dục đang ở đâu để chỉ
cho người lính.
Chết cha… Ảnh đâu rồi?!
Người lính không thấy cô trả lời, bắt đầu mất kiên nhẫn, lại nâng sổ lên,
mở miệng toan hỏi cung tiếp.
Thì may quá!
Nguyễn Đức Dục đeo theo tay nải, cùng mấy anh em đi tới bên cạnh người lính,
anh cười nói rạng rỡ, lại toát ra mấy phần ngại ngùng xin lỗi: “Ôi, xin lỗi cô
cậu nhé! Em tôi chạy nhanh quá, không có mọi người giữ nó lại thì tôi chắc lại
lạc nó tiếp rồi! Làm phiền mọi người quá.” Nguyễn Đức Dục vừa nói liền hồi, vừa
mang ra hai đồng bạc, dúi cho người lính.
Người lính nhìn quanh, khi thấy không ai để ý thì giấu hai đồng bạc vào tay áo,
rồi cười nói với Nguyễn Đức Dục: “Công tử khách sáo quá ạ, tôi thấy công nữ còn
nhỏ mà đi một mình, sợ Cô không quen đường chỗ đông người phức tạp, chuyện nên
làm ấy mà. Công tử cho tôi biết tên tuổi, nơi chốn nhé ạ?”
“Hồ Dục, người Thạnh Viết, Cương Oai, vừa đi thuyền từ Duyên Viết tới đây ạ.”
Nguyễn Đức Dục cười nói, rồi vẫy vẫy tay, một người dưới trướng liền đem giấy
thông hành đã chuẩn bị sẵn lên. Anh đợi cho người lính nhìn qua giấy thông
hành, yên tâm ghi chép lại rồi nói tiếp: “Cửa hàng gỗ của chúng tôi ở phố thứ
ba, đi từ cảng này vào rẽ tay trái, qua bảy dãy là tới ạ.”
“Hàng gỗ? À, là hàng gỗ đào nhà lão Hến bà Thuyên đúng chứ ạ? Thế thì chúng tôi
biết.”
“Đúng ạ. Lão Hến là ông cậu của bọn tôi.” Rồi Nguyễn Đức Dục vẫy vẫy tay về
phía Trịnh Khuê, Trịnh Khuê ngay lập tức chạy đến bên cạnh anh.
“Công tử và công nữ đi được rồi ạ.” Người lính ghi chép xong, kẹp bút lông vào
giữa rồi đóng sổ lại, đứng nghiêm chào đoàn của họ. “Sói phù trợ chư quân!”
“Sói phù trợ. Cảm ơn cô cậu.” Nguyễn Đức Dục cười nói.
“Sói phù trợ chúng ta.” Trịnh Khuê cũng nhanh nhẹn cười nói theo anh, tự nhiên
như không có gì.
Bọn họ ra khỏi bến, đi vào những dãy đường phố tấp nập.
Hú hồn thật…
“Cô chạy nhanh quá chừng, làm tôi phát hoảng” Nguyễn Đức Dục nói khẽ ngay khi
họ đến một đoạn đường vắng vẻ ít tai mắt.
“Sao anh không bảo em phải nói mình họ Hồ, Cương Oai?” Trịnh Khuê không phục
hỏi lại. Rõ ràng cô bị hố trước.
“Tôi quên mất.” Nguyễn Đức Dục cười ngượng nói. “Cả dọc đường cứ nghe Cô kể
trên trời dưới biển, quên luôn phải dặn cô trước.”
“Thế là lỗi của Dục rồi nhé.” Trịnh Khuê nói. “May mà em nghĩ nhanh, không là
lộ hết rồi.”
“Vâng ạ.” Nguyễn Đức Dục nhận lỗi ngay, cũng không có gì để mà cãi.
Trịnh Khuê có mấy khi nói sai đâu.
Cô hài lòng, rồi lại không hài lòng, đi cùng đoàn người trong các ngõ hẻm và
nhà cửa vách đất san sát.
Qua khu này sẽ là phố hàng quán, nơi có cửa hàng gỗ của già Hến, nên mọi khi,
cô sẽ ngó nghiêng từ đây, xem người người nhà nhà đi lại thế nào rồi đoán xem
khu phố hàng quán sẽ bán những gì hôm nay.
Nhưng nay không có mấy người đi lại. Vẫn có, nhưng họ không vui vẻ, không mang
theo những món đồ mới mua.
Nơi có nhiều binh lính, đặc biệt là những nơi bình thường không có nhiều binh
lính mà đột nhiên có nhiều binh lính, thì người bình thường sẽ không vui.
Họ gượng gạo, sợ cười, cũng sợ khóc. Họ nhìn ngọn giáo và sợ nó sẽ đâm vào họ.
Họ ngại việc giáp mặt những người bình thường họ chỉ phải gặp khi đóng thuế nộp
má lúc đang đi trên phố. Họ sợ họ mua nhiều quá thì sẽ bị coi là phung phí tiền
bạc, hoặc bị coi là hơi quá giàu và nên nộp nhiều hơn.
Người không mang vũ khí thì sợ những mũi sắc.
Trịnh Khuê đã sâu sắc, chị hay dùng từ này, học được
điều này khi lần đầu trốn bố mẹ đi chơi với bọn mục đồng.
Bọn họ vốn đã đang chơi rất vui, khoe nhau những con chuồn chuồn xanh đỏ, gầy mập
mà bọn họ tóm được trên đồng.
Nhưng khi cô rút thanh đoản đao bác Liên tặng cho ra khoe bọn chúng, thì đám
mục đồng toáng lên chạy mất.
Trịnh Khuê liền không thích mang theo những mũi nhọn nữa.
Vậy nên, cũng không có gì ngạc nhiên khi viên kẹo ngọt An Dung không còn ngọt
nữa.
Trịnh Khuê hơi buồn buồn, nên cô và mọi người không chí chóe nháo nhác như bình
thường nữa.
Họ đi thật nhanh đến hàng gỗ của già Hến.
“Ôi chao, các ông bà đến rồi à.” Già Hến già. Rất già. Già cũng khom khom và
đen đen như con hến. Nhưng già Hến có đôi mắt rất quái, một đôi mắt sụp mí, gần
như chỉ hở ra một khe bé tẹo, ấy thế mà ai già cũng nhìn rõ trong một nháy mắt.
Chỉ cần nhìn cái bóng của đoàn người đổ lên sàn nhà, già đã biết người sau lưng
mình là ai. “Tôi còn sợ Trịnh tướng quân và Vương hựu bị cuốn đi theo Lưu Vương
rồi ấy chứ! Mời ông bà vào ngồi. Bà Khuê ngồi trên ghế trên đi ạ, vợ nhà tôi
đang pha trà mật ong.”
“Già ơi con không ngồi
đâu ạ.” Trịnh Khuê ghé rất gần để già Hến nghe rõ, nhưng già Hến vẫn đơ đơ.
“Hở? Bà không đói hở?
Thế Hến bảo vợ không mổ gà nữa.” Già Hến lo con gà. Trịnh Khuê thì vừa tức cười
vừa lo cho bữa gà.
Cô lại ghé gần hơn, phát
âm rõ chữ hơn: “Con không, ngồi, lại đâu ạ! Giờ hai già cứ nói chuyện với các
anh em trước ạ! Con đi mua chút đồ! Rồi về ăn với hai già ạ! Già mổ gà nhé ạ!”
Giờ già Hến nghe rõ rồi,
già giậm giậm cái gậy chống gỗ đào, nói vọng vào trong: “Thuyên ơi mổ gà cho
các ông bà nhá!”
Già Thuyên liền nói vọng
ra: “Rồi!”
Trịnh Khuê thấy ổn thoả
rồi, vậy là tót ra ngoài.
Nguyễn Đức Dục liền bảo
các anh em ngồi xuống, rồi quay ra, cúi xuống ghé sát vào nói bên tai già Hến:
“Tướng quân vẫn nhớ công của lão, lần này là chuyện múa rìu dưới mắt thiên tử,
chỉ cần làm được thì ắt sẽ không quên. Đêm nay tôi và hai ông bà gặp
mặt.”
Trịnh Khuê không thấy,
nhưng già Hến không chỉ có đôi mắt rất quái, mà còn có cái đầu rất tinh.
Ông lão ghé vào gần thật
gần tai Nguyễn Đức Dục, lời nói ra từ cổ họng khàn đặc nhăn nheo vẫn mang lưỡi
sắc của một gián điệp lành nghề: “Thú Vệ đi trong bóng tối, lúc nào cũng trước
kiệu vua. Bọn họ đã ở đây rồi.”
Nguyễn Đức Dục hiểu ý, y
vỗ vỗ bàn tay chống gậy của lão Hến, nói rất nhỏ, nhưng y biết đôi tai của lão
tinh tường nhất là những thứ này: “Trịnh gia quân không được để lọt một cái tên
nào.”
Nói rồi y đứng dậy, như
chưa có gì xảy ra mà đổi lại gương mặt tươi cười, chạy theo Trịnh Khuê mà gọi
cô lại, bảo cô đợi anh đi cùng.
Nửa túi tiền của bố đổi ra được một túi kẹo đầy, khoảng một trăm viên.
Trịnh Khuê nhìn túi kẹo người bán hàng tính cho, thấy hơi choáng ngợp.
Cô bé sợ chị mà thấy sẽ mắng mình mất. Quá lãng phí rồi.
Cô bé cũng có thể ăn bớt trước khi về. Nhưng không ổn lắm…
Lần trước khi Nguyễn Đức Dục cho Trịnh Khuê ăn thử kẹo này, cô bé đã thích mê
mà không kiểm soát được, cả một túi hai mươi viên, chỉ trong một buổi chiều đã
hết sạch.
Khi bố biết chuyện đã nhìn cô với ánh mắt ngỡ ngàng không thể tin được kèm theo
cái vỗ trán không thể tưởng nổi. Ý là, bố đã nhìn cô chằm chằm rồi vỗ trán khi
nói hai câu đó.
Cô sợ nếu mình động vào một viên thì sau nửa tháng lang thang, khi về chị sẽ
chỉ nhìn thấy một cái túi kẹo trống trơn và một Trịnh Khuê mập như voi còi.
Vế nào trước sau chữ “và” ấy cũng đều không ổn.
Nên cô bé đã cắn răng quyết định hai điều: một là cô bé sẽ nhất quyết không ăn
viên nào cả, hai là cô bé sẽ chỉ mua năm mươi viên thôi.
Cho chị, anh Quang, và mình, mỗi người mười viên, sẽ hết ba mươi viên. Còn mười
viên sẽ tặng bác Liên, và mười viên còn lại cho bố.
Thế là vừa đủ và Trịnh Khuê sẽ không thành con voi còi.
Người bán hàng đã vui vẻ nhận nửa chỗ tiền mà ban đầu Trịnh Khuê nêu ra, rồi
gói cho cô bé năm mươi viên kẹo vào giấy trắng tinh sau khi nghe cô tường trình
rõ ràng kế hoạch chia chác của mình.
Quả nhiên mọi người đều tốt tính khi hiểu hết khó khăn của đối phương!
Nguyễn Đức Dục đợi bên ngoài nên không biết và không kịp “can gián”, bố từng
dùng từ này, đã ngơ ngác hỏi cô bé rằng anh không có phần à khi nghe cô kể lại.
Trịnh Khuê ngơ theo.
Cô quên bẵng mất.
Thế là Trịnh Khuê lại nghĩ lại, rồi cô chia cho anh năm viên, trong quỹ mười
viên kẹo của chính mình.
Thế là ai cũng vui. Nguyễn Đức Dục nói anh sẽ nhận kẹo sau khi cô đã chia hết
cho mọi người.
Hai người cùng nhau đi trên phố.
Phố An Dung càng về xế chiều thì càng vắng vẻ.
Nay cũng không có hàng bày bán nhiều.
Trịnh Khuê ngó quanh khắp nơi, những hàng đồ trang sức, đồ thủ công, chuồn
chuồn gỗ, cua đan từ lá dừa, đều ít hơn và cũng không màu sắc thú vị như ngày
trước. Chúng vẫn đẹp, nhưng chẳng hiểu sao chúng cứ thiếu sót điều gì.
Quốc tang.
Trịnh Khuê nghĩ ngợi mãi hai chữ đó, rồi buồn rầu thở dài. Thôi được.
Nhưng đột nhiên, có một cửa hàng đồ khắc gỗ đã thu hút ánh mắt cô bé.
Trịnh Khuê phải dụi dụi mắt, rồi nhìn lại, và thấy như mình đang tìm thấy một
phép màu.
Người thợ khắc gỗ trẻ vừa bày ra một chiếc trâm cài gỗ.
Một chiếc trâm cài hình cánh chim!
Thân trâm không uốn cong như chữ thảo mà thẳng tắp như chữ khải. Cả cánh chim
nhỏ ở đầu trâm cũng vậy, thẳng, vươn lên một đường như nét mác, lại khẽ phẩy
lên như một nét cong. Khỏe khoắn, mạnh mẽ, khí phách, đơn giản. Tuyệt đẹp!
“Dục! Nhìn kìa.” Trịnh Khuê không đợi Nguyễn Đức Dục quay qua hướng cô bé chỉ
mà kéo anh đi luôn.
Đến trước sạp hàng, cô bé bừng bừng khí thế ngắm nghía chiếc trâm.
Người thợ trẻ nhìn vị khách hiếm có, khẽ cười hỏi: “Công nữ nhìn trúng tác phẩm
nào của tôi rồi sao?”
“Một tác phẩm!” Trịnh Khuê thấy cách dùng từ này thật hay, cô bé vận dụng ngay,
báo cho người thợ.
“Chỉ một.” Người thợ vui lòng vì câu nói ấy. “Vậy là tốt, công nữ có khiếu đấy
ạ. Giữa người sáng tác và người hưởng thụ, đẹp nhất là khi chỉ cùng ưng nhau
một lần.”
“Sao anh lại nghĩ em sẽ chỉ ưng một lần?” Mắt Trịnh Khuê sáng lên trước lời nói
thú vị của người thợ, cô bé hào hứng hỏi. “Những chiếc trâm anh làm thật đẹp!”
“Tôi biết ơn lời khen của công nữ.” Người thợ lại đáp thật khôn ngoan và thông
thái làm sao! “Nhưng Cô đã đến sạp hàng này với tâm hồn chỉ ghém trọn lại trong
một chiếc. Cô đã thấy mọi sạp hàng và thấy chúng không tệ, bởi tất cả tác phẩm
đều đẹp trong mắt Cô. Nhưng Cô chỉ tiến đến sạp hàng này vì trái tim Cô bị một,
và chỉ một chiếc trâm hút hồn. Bởi vì cô chia tâm hồn mình ra chiêm ngưỡng
những cái đẹp rải rác thì sẽ không bao giờ thỏa mãn bằng việc trao trọn tâm hồn
ấy cho duy nhất một cái đẹp.”
Trịnh Khuê gật gù, cô bé chỉ vào tác phẩm duy nhất, cái đẹp duy nhất mà mình
muốn. Chiếc trâm thẳng hình cánh chim. “Em thích tác phẩm này của anh! Cho em
nghe cái giá mà anh muốn được trả để nhường nó cho em đi!”
Người thợ nhìn Trịnh Khuê, có lẽ anh chưa bao giờ được nghe cách nói này. Anh buông
đồ nghề trên tay xuống, cẩn thận, khéo léo cầm chiếc trâm thẳng lên.
“Thưa Cô, tôi đã dùng hai ngày để khắc chiếc trâm gỗ này, trong hai ngày ấy,
tôi và gia đình cần một đồng bạc để ăn đủ no. Cái cây đã cho tôi khối gỗ này đã
sống được khoảng năm chục năm, tôi cần một đồng bạc để trả cho sự sống của nó.
Và thêm một đồng bạc nữa cho những dụng cụ tôi đã dùng để khắc nó thành dáng
hình này.” Người thợ trẻ trịnh trọng giảng giải cho Trịnh Khuê nghe.
“Vậy em sẽ trả cho anh năm đồng bạc!” Trịnh Khuê lấy túi tiền riêng của mình
ra, cẩn thận lấy ra năm đồng bạc rồi đặt lên gian hàng của người thợ. “Một cho
tay nghề tuyệt vời của anh, và một cho cuộc trò chuyện này!”
Người thợ trẻ rất trân trọng cất năm đồng bạc đi. Anh trao cây trâm lên bàn tay
Trịnh Khuê, nói: “Cảm ơn công nữ. Tôi cầu mọi vận may cho Cô ạ.”
“Cảm ơn anh!” Trịnh Khuê vui sướng ôm lấy cây trâm, rạng rỡ đáp.
Quả nhiên thợ thủ công là tuyệt nhất!
Nguyễn Đức Dục vẫn khù khờ không hiểu mình đã nghe thấy cái gì khi đuổi theo
bước nhảy chân sáo của Trịnh Khuê.
Cô bé có kẹo, có trâm mới, và có một cuộc trò chuyện tuyệt vời.
Trịnh Khuê tự hỏi tại sao Nguyễn Đức Dục lại thấy khó hiểu khi cô bé vui tới
vậy. Nếu bay được thì giờ cô đã đang bay rồi!
Nhưng một hồi nhận ra Nguyễn Đức Dục hơi tụt lại phía sau, cô bé liền ngừng
bước chân, quay lại xem anh đang làm gì.
Nguyễn Đức Dục đang đứng sững lại, nhìn vào một con hẻm. Anh không biểu cảm gì
quá đà, nhưng cứ căng cứng lại như không vui.
Trịnh Khuê chạy đến. Cô cũng nhìn vào con hẻm.
Và rồi cô cũng không vui.
Một người đàn ông đang đánh một người đàn ông khác.
Người đàn ông đánh người đàn ông đang lấy đi túi đồng sắt nặng trịch của người
đàn ông đang bị đánh.
Một vụ cướp.
Trịnh Khuê liền lấy kim mảnh giấu trong ống tay áo ra. Nguyễn Đức Dục nhận ra,
khẽ nghiêm giọng nói: “Công nữ. Đừng. Chúng ta không nên tham gia vào ẩu đả.”
“Em đâu định tham gia.” Trịnh Khuê lại tự tin đáp. “Em sẽ kết thúc nó đấy. Chỉ
cần một đòn thôi, dọa tên kia sợ chết khiếp luôn.”
Nguyễn Đức Dục không đáp được gì. Anh cũng muốn can dự, anh chỉ không muốn dính
vào rắc rối thôi.
Nhưng Trịnh Khuê không định gây ra rắc rối.
Cô bé châm kim vào đầu ngón tay, khẽ, vừa đủ để một giọt máu nhỏ ứa ra.
“Công nữ, Cô không được để lộ.” Nguyễn Đức Dục không yên lòng, anh ngăn cản cô
bé.
“Này, em là Thệ sư của thiên tài Lý Tình đấy nhé.” Cô bé lại khẽ nói, rất kiên
định. “Chị em có thể hạ ông kia giữa chốn đông người trong một chớp mắt mà
không ai nhận ra cả. Em còn lâu mới để lộ.”
Nói rồi, ngưng tụ giọt máu nhỏ vừa ứa ra.
Một viên Xích Thạch bé xíu, chỉ bằng một con muỗi, thành hình. Đỏ au như một
con dĩn.
Trịnh Khuê tập trung, giọt máu nhỏ nghe lệnh, lướt như gió đến người đàn ông ăn
cướp kia, cứa lên tay ông ta một vệt nhỏ xíu.
Chỉ là một vết xước. Nhưng quả nhiên, ông ta đau đớn nhảy dựng lên khi cơn đau
từ vết thương nhỏ ấy vọt lên!
Trịnh Khuê lại điều khiển con dĩn bé xíu của cô lượn vờn, cứa nhiều vết xước
hơn nữa lên mặt, lên tay người đàn ông xấu xa ấy. Ông ta hoảng sợ khi những cơn
đau không biết từ đâu ra liên tục vụt đến. Vụt đến vun vút đến mức ông ta hoảng
sợ, ném túi tiền sắt vừa cướp được xuống mà bán mạng chạy.
Giọt đỏ liền quay lại bên tay Trịnh Khuê, hòa lại vào trong máu.
Cuối cùng cô bé cũng buông lỏng tâm trí được.
“Đó!” Cô tự hào nói với Nguyễn Đức Dục. “Không hề lộ một chút nào nhé.”
Nói rồi, cô bé đi đến chỗ người đàn ông đáng thương đang co ro trong góc. Trịnh
Khuê giúp ông nhặt túi tiền, trao trả lại cho ông.
Nhưng người đàn ông dường như vẫn đang phát hoảng vì bị đánh, nên rụt lại sợ
hãi khi cô bé đưa tay đến gần.
Trịnh Khuê liền khẽ giọng: “Không sao đâu ạ, tên người xấu chạy mất rồi đó. Túi
tiền của bác còn nguyên luôn. Còn vết thương sẽ lành thôi mà.”
Người đàn ông vẫn sợ hãi, nhưng dường như cảm thấy cô bé thiện chí đến thế nào,
nên cuối cùng cũng rụt rè đưa tay ra lấy lại túi tiền của mình.
“Đó!” Trịnh Khuê cười. “À, đúng rồi. Cháu có cái này cho bác đấy. Phần của cháu
còn năm viên, cho bác viên này là còn bốn đó nha.” Cô bé móc kẹo ra khỏi giấy
bọc, cẩn thận đặt lên bàn tay run rẩy của người đàn ông. “Cực kỳ ngon. Ăn đồ
ngọt vào thì sẽ thấy khỏe hơn. Bác ăn xong là sẽ hồi đầy sức để về nhà dưỡng
thương đấy!”
Người đàn ông dè dặt một lúc rồi mới nắm lấy viên kẹo, gượng đứng lên. Hình như
ông vẫn còn rất sợ hãi, nên chỉ khẽ cúi đầu, nói cảm ơn rồi lết thân đi mất.
Trịnh Khuê nhìn người đàn ông đi xa, rồi tự dưng lại thấy buồn buồn rồi nói với
Nguyễn Đức Dục vẫn đang đứng yên tại chỗ: “Khổ thân thật. Sao người ta lại nỡ
làm thế với ai đó nhỉ?”
Nguyễn Đức Dục như bừng tỉnh, quay lại bên cạnh Trịnh khuê, khẽ mỉm cười với cô
bé: “Gã sẽ khá lên thôi. Gã sẽ nhớ viên kẹo ấy suốt đời đấy. Em đã cứu gã rồi.”
“Ô! Anh cũng vui lắm đúng không?” Trịnh Khuê bất ngờ, cô bé thấy niềm vui lại
nhen nhóm. “Mãi Dục mới chịu gọi em bằng 'em' nhé!”
“Đi, đi về thôi.” Nguyễn Đức Dục nói, rồi dắt tay Trịnh Khuê đi. “Về ăn tối
thôi.”
Trịnh Khuê cảm thấy mọi người thực sự quá cứng nhắc đối với chiến tranh rồi.
Thấy chưa? Cô bé vừa dùng một viên kẹo để giải quyết xung đột kìa.
Con người ai mà chẳng tốt khi có được cái họ cần và hiểu cái khó của người khác
kia chứ!
Trịnh Khuê không thấy. Cô không thấy rất nhiều.
Nhưng Nguyễn Đức Dục thấy người đàn ông đáng thương kia trợn tròn mắt trước ánh
đỏ lướt qua trước mặt. Người đàn ông cướp giật không tự mình bỏ đi. Ông ta bị
đuổi đi bởi một ánh đỏ, giống như một viên đá đỏ. Người đàn ông bị cướp đã nhìn
thấy viên đá ấy.
Đối với người dân thường, trên đời này chỉ có vua và dòng dõi Hoàng tộc mới là
con của Sói, là sinh thể gần hơn với thánh thần, là á thánh, kẻ được chọn. Chỉ
có Hoàng tộc mới là Họa huyết sư.
Còn có những thuộc hạ được Hoàng tộc lựa chọn, trao cho quyền năng để phục vụ
Hoàng tộc. Chỉ có họ mới là Thệ Huyết sư.
Tất cả những kẻ sử dụng máu khác, đều không thể tồn tại.
Và Thú vệ tồn tại để bảo vệ niềm tin ấy ở dân thường.
Niềm tin giữ những đứa con họ Bàng ở trên Ngai báu.
Chừng nào dân thường còn tin rằng chỉ có Hoàng tộc họ Bàng mới sở hữu quyền
năng thần thánh, thì viên kẹo ngọt của Ngai báu mới nằm trong tay vua như một
lẽ dĩ nhiên.
Người đàn ông kia vừa thấy quyền năng ấy, ngay trước mặt gã.
Nguyễn Đức Dục nhìn thấy, và biết rằng gã biết gã đã thấy cái gì.
Những Trịnh gia quân lén đi theo họ cũng đã thấy y ra ám hiệu.
Trịnh Khuê có thể không thấy, nhưng rất nhiều con mắt đã thấy rồi.
---------------------
Khi đêm tối buông xuống, lời thì thầm lớn hơn.
Hai chiến binh Thú vệ khoác áo choàng đen, đi trong bóng tối.
Căn nhà này thuộc về một người đàn ông. Gã là người bình thường, nhưng gã được
sinh ra bởi một trong số những đồng đội cũ của họ.
Gã là một trong số những tai mắt thường dân hiếm hoi của họ.
Mỗi thông tin gã tuồn cho họ, gã nhận năm đồng bạc.
Gã hay đổi chúng ra đồng sắt, như thể chỉ cần làm thế, gã sẽ cảm thấy mình bớt
tội lỗi hơn, kiếm ít tiền trên mạng người hơn.
Tình báo của gã đã giúp họ “săn” được rất nhiều kẻ lưu lạc.
Những kẻ nhận được ân huệ ngọt ngào của Sói, những kẻ không thể được dung thứ
vì đã sở hữu đặc quyền mà chỉ Hoàng tộc mới đáng được nhận.
Khi đến gần thi thể của gã, một trong số hai Thú vệ quỳ xuống, xem xét dấu vết
tử vong.
“Một viên kẹo à?” Thú vệ đang đứng hỏi.
“Ừ.” Thú vệ đang quỳ đáp. “Kẹt trong cổ họng, làm nghẹt đường thở.”
“Như thế nào?”
“Tinh vi. Chị cũng không chắc kẻ nào có thể làm được thế này. Nhưng xem ra ta
chỉ đành tin rằng cậu ta nhỡ tự làm mình tắc thở vì một viên kẹo rồi.”
“...” Thú vệ còn lại đứng im một lúc, rồi đành bỏ cuộc điều tra, quay người
bước ra ngoài. Nàng ta nói: “Chỉ huy Trương Nguyên đã ra lệnh rà soát toàn bộ
phía nam trước khi Hoàng hựu đại nhân tới. Chị thu thập hết tin báo còn sót lại
của cậu ta, rồi đốt ngôi nhà này đi giúp em nhé.”
“Em muốn đi tuần một mình luôn à?”
“Phải nhanh mà.” Thú vệ trẻ hơn đáp. “Còn có bảy ngày nữa thôi.”
Nhận xét
Đăng nhận xét