Hoàng tự

“Sau hai mươi năm hòa bình…” Bàng Định đứng ở nơi cao nhất của tường thành Quan Giang, nhìn về tuyết trắng đang lác đác trôi xuống giữa núi đồi, thì thào khẽ nói, “cuối cùng, chiến loạn lại rơi vào tay ta thật sao…”


Tô Hào nghe Bệ hạ nói vậy, không khỏi tiến lên vài bước, định quỳ xuống nhận tội. Nhưng Bàng Lộ đã mau chóng nhận ra, đưa tay chặn bà lại, rồi cũng nhìn về phía bắc, nói với cha: “Năm nay phía bắc của ta đã lạnh nhường này. Hẳn cũng không tránh khỏi ạ.”


Giữa nơi quan ải, gió rít điên cuồng mang theo tuyết trắng như muối ngày càng dày đặc.


Bao sông hồ bên dưới đều đã phủ tầng băng sương.


Năm nay Quan Giang đông lạnh như giết người.


Mười nước phía bắc cũng đã không còn chịu im lặng. Hay nói đúng hơn, bọn chúng không còn là mười nước nữa. Đã hợp nhất thành một rồi, không còn chịu dưới thế nữa.


Bàn tay của Bàng Định đặt trên tường thành đã đỏ ửng vì lạnh, nhưng đôi mắt của ông vẫn không thể rời khỏi nơi quân doanh vừa mất đi đang dần chìm vào mưa tuyết.


Lời của con, ông đương nhiên nghe hiểu, nhưng làm sao có thể cam lòng?


Hai mươi năm hòa bình này là thành quả rực rỡ của cha ông, ông còn dâng miếu hiệu cho cha một chữ “Vĩnh”, vậy mà cha mới chỉ mất có bốn năm, tang kỳ còn chưa dứt, núi sông đã đổ bể!


Tô Hào bị đại hoàng tử chặn lại, không thể quỳ, liền dốc lòng nói: “Thưa Bệ hạ, xin hãy cho chúng thần được xuất binh. Thần xin thề, chỉ cần nửa tháng, chúng thần nhất định sẽ đoạt lại thành Tương Như lấy công chuộc tội. Tô thị xin Bệ Hạ được đánh, quyết không phụ lại xương máu sĩ tướng đã vong!”


“Tốt nhất nên là như thế.” Cuối cùng, bàn tay đông cứng do sương giá của ông cũng đã phát đau, phát bỏng, đến mức ông phải giật tay lại, ủ vào trong tay áo, rồi quay đầu, nhìn Tô Hào mà nói. “Xích Thành sẽ phát binh và lương cho các người. Bao nhiêu cũng sẽ cho. Dẹp yên lũ sâu mọt này cho trẫm.”


Nói rồi, ông bỏ đi, bước xuống khỏi tường thành, không để Tô Hào nói thêm một câu nào.


Câu trả lời duy nhất Tô thị được quyền đưa ra, là thắng.


Và Bàng Lộ, cũng sẽ không được làm bất kể điều gì, ngoài theo ông về kinh.


Y nhìn quanh một vòng tường thành bờ bắc Quan Giang, dòng sông Quan đã đóng lớp băng mỏng, tóc người đã nhuốm trắng như mây.


Ngẩng đầu lên trời cũng không thấy mặt nhật.


Chỉ đành thở dài, vừa đi theo cha, vừa nói với chư tướng sĩ và Tô Hào: “Ta đành trông cả vào chư vị.”


Bàng thị đến nay chỉ còn có hai Họa sư trong nội tộc, là y và em gái y. Mẹ không sinh thêm được, cũng không ai dám tự đề bạt chính mình, tranh vị với Hoàng hựu và dòng đích, nên cũng chẳng thể có thêm Hoàng tự họ Bàng nào nữa.


Bàng Lộ là con trưởng, tuyệt đối không thể thân chinh.



Xích Thành mùa đông năm nay cũng lạnh. Lạnh đến mức có tuyết lơ thơ rơi.


Đây là sự kiện trăm năm cũng chẳng thấy được.


Một điềm không lành thấy rõ.


Hoặc đó là cách người ta nói vậy.


Nguyễn Cân ngồi bên lò sưởi, dù đã khoác áo ấm hàng tầng, nhưng vẫn không nhịn được mà thấy lạnh thấu xương. Bà chỉ đành chùm kín chính mình bằng bông gấm, lông thỏ mềm mại quấn quanh gương mặt sạm vàng của bà. Nhưng ánh mắt bà vẫn tinh tường lấp lóa niềm vui, vì trò vui mà con gái mười bốn tuổi của bà đang bày trước mặt.


Kỳ thực bà biết con không vui vì buổi luyện tập hôm nay bị hoãn vì tuyết, càng không vui vì không được tới phía bắc cùng cha anh, nhưng cũng nhờ vậy mà nó mới chịu ở nhà với bà.


Đối với bà, thế là đủ vui rồi.


Nguyễn Cân không thể đứng dậy nổi sau lần sảy thai đứa con thứ ba nữa. Có lẽ thân thể phàm tục của bà đã quá tham lam khi mong chờ rằng mình có thể thay Sói hạ sinh đến ba đứa trẻ của Người. Nên Sói đã không còn cho phép bà được chiến đấu nhân danh Người nữa. Nếu không, hôm nay, bà cũng có thể thay Bệ hạ dấy một hồi cung kiếm sa trường. Không để đến nổi phải đợi người ngoài đổ máu thay Hoàng tộc.


“Này!” Bàng Hạ dường như bây giờ mới nhận ra mẹ đang hơi im lặng, vừa liếc mắt xem bà đã ngủ chưa, vừa “giương đông kích tây” mà mắng con rối nước vô tri do chính mình điều khiển. “Sao lại đi ra đấy! Đâm phải ông giám huyện rồi, cái thằng trâu này.”


Nguyễn Cân biết con đang nhắc khéo mình, bèn đáp: “Ông Giám huyện bị trâu đâm rồi, phải lặn đi thôi. Hoàng nữ Hạ ngón trò này còn vụng lắm.”


Bàng Hạ nghe mẹ nói vậy, chán nản cho cả con trâu lẫn Giám huyện lặn xuống nước luôn rồi thu lại xích thạch ở các khớp rối.


Vốn dĩ vở kịch này, ngài Giám huyện Lại Nhất Tuyến phải còn sống đến khi được thăng lên Đại học sĩ, nhưng vì Bàng Hạ đã cho trâu đâm chết ngài từ lúc mới thi đỗ tiến sĩ về Dương Chi nhậm chức Giám huyện, xử vụ chim cò săn trâu, nên làm gì còn sau đó nổi nữa.


Thấy hoàng nữ chán, dù Hoàng hựu không nói gì, nhưng hầu cận xung quanh cũng đã biết ý, dọn ngay “sân khấu rối nước” bày bằng chậu hoa súng gốm men Ngân Hà của Bệ hạ xuống.


Bàng Hạ bĩu môi nhìn theo, vừa xoa xoa tay, vừa lượn lờ quanh phòng, mất kiên nhẫn nói: “Chả nhẽ con chỉ được chơi rối nước với đàn hát qua ngày thôi ạ? Triều cũng hoãn không cho lên thế này, chán quá.”


“Con còn dỗi gì nữa?” Nguyễn Cân lại cảm thấy rảnh rỗi thế rất tốt, bà càng tựa sâu vào đệm lông thỏ, đáp. “Anh con cũng chỉ được lên đấy nhìn lát thôi, có được làm gì đâu? Con còn được ở nhà lên triều nhiếp chính, thế là thắng một bàn rồi đấy.”


“Con có ngồi trên triều cả năm, bố mẹ cũng không quyết cho con làm Thái tử.” Bàng Hạ lượn như con cá một hồi, rồi bực dọc ngồi bụp xuống giữa nhà, ôm cằm nhìn mẹ nói. “Đừng hòng lừa được con. Quyết lâu rồi chứ gì?”


“Hạ nóng tính thế,” Nguyễn Cân lại càng úp mở, nói, “thì càng không thắng được Lộ đâu.”


“Vậy là con không có cửa mất rồi ạ?” Bàng Hạ cũng không chịu kiểu úp mở ấy, nhất quyết nói. “Nói là cho con nhiếp chính, nhưng quyết sách nhỏ thì các triều thần cũng tự quyết, tấu lớn thì để bố về quyết. Mang tiếng là cho con có tư binh, nhưng đánh thì không cho con đi. Thế thì con lấy đâu ra công trạng?”


“Lộ cũng sẽ không được đánh.” Nguyễn Cân lại chỉ bình thản trả lời con. “Không ai trong số các con sẽ ra trận cả. Kể cả nếu cha con có phải thân chinh tử chiến, các con cũng không được đánh.”


“Nhưng nếu thế, thì bọn con để làm gì? Chẳng nhẽ lại cầu nguyện bọn con giống được Trảm Thiết, cả đời không giáp địch cũng trảm nổi Thiết Dực?” Bàng Hạ càng không phục. Nàng luôn cho rằng như vậy là quá hèn nhát. Bàng Lộ và Bàng Hạ đều là Họa sư giỏi chiến đấu, nhưng lại chưa từng được thực sự lập công trên chiến trường. Trước đây yên bình không chiến sự còn coi như không sao. Nhưng bây giờ, địch đã đến trước cửa nhà, lại vẫn chỉ muốn chặt củi mà không muốn đốt.


Vậy sao mà được.


“Các con là con chúng ta.” Nguyễn Cân nghe con bướng bỉnh hỏi vậy, lại càng buồn nản về thể trạng của mình. Nhưng có lẽ buồn hơn nữa, là cách mà bọn trẻ ham thích, khao khát thứ như gươm đao. Các thầy dạy võ và thi ca kịch truyện dạy chúng về vinh quang nhiều quá. “Con thích đánh nhau đến vậy à? Xa cha mẹ mà bôn ba bên ngoài thì có gì vui?”


“Nhưng nếu thế thì bất công mà.” Bàng Hạ không hề nao núng mà nói. “Mẹ cũng đâu muốn người ngoài thay chúng ta mãi, còn chúng ta thì chỉ dám nấp sau bốn bức tường. Nếu Tô thị thay Bàng thị lập hết quân công, bảo quốc kinh bang, thì ngai này đâu còn đáng là của Bàng thị nữa?”


“Vậy con nghĩ cha con và ta chỉ trốn sau bốn bức tường thôi à?” Nguyễn Cân hơi ngồi nhổm dậy để nhìn vào mắt con mà nói. “Vậy con nghĩ những đại học sĩ tay trói gà không chặt, hay Quốc mẫu Ba Định thì không xứng vinh danh sao? Đến Thánh Tông cũng không cần đích thân phá địch, nhưng lẽ nào vì thế mà ngài không xứng làm vua? Văn Tông sinh ra đã không có chân trái, đến tự mình đứng còn không làm nổi, vậy Văn Hiếu thịnh trị là huyễn hoặc hay sao?”


“Nhưng họ được đưa ra quyết sách.” Bàng Hạ cũng đứng dậy, nghiêm túc chắp tay nói với mẹ. “Ba Định Đại vương dạy ba đời Hoàng đế. Thánh Tông dùng một lá cờ, một bài hịch mà thống nhất lòng người, thập đạo theo ấy mà liều chết lật đổ ngụy đế. Văn Tông cải cách, đặt ra bảy bậc bổng lộc, quan trật, cải cách thuế ruộng ba lần, đặt quận huyện chế đến nay vẫn còn thịnh. Nếu con còn không quyết nổi chức quan lên xuống của một Giám huyện Phong Đôn nhỏ nhoi, thì lấy đâu ra uy trị thiên hạ?”


“Con lái thuyền bao giờ chưa?” Nguyễn Cân liền khẽ cười, chỉ vào con mà nói. “Rối nước kia kìa, dân gian chỉ dùng thanh gỗ, sợi dây, mà khiển từ sau màn. Gỗ làm việc gỗ, dây làm việc dây, rối tự nhiên sẽ vào chỗ. Người, nằm yên sau màn, động ngón tay cũng phải biết dùng lực đúng lúc đúng chỗ. Đây, Hoàng nữ Hạ dùng đến cả quyền năng thần ban, trăm khớp xích thạch từng khớp một đều khiển được bằng một ánh mắt, nhưng khớp nào cũng muốn khiển, nên đến con trâu mọn, cũng kìm không xong.”


Bàng Hạ nghe mẹ nói, ý nào cũng sắc nhọn như kim đâm, liền thẹn không cãi được.


Vốn dĩ cũng không phải nàng không khiển được con trâu, nhưng càng nghĩ càng thấy cáu viên Giám huyện bị tấu lên hai ngày trước mà không ai cho truất, nên mới để nó húc vào Lại Nhất Tuyến. Nhưng giải thích thế, vừa chẳng ăn ai, lại càng thêm xấu hổ, nhỏ mọn.


Nên chỉ đành cúi đầu, khẽ gật đồng ý.


“Cha con và ta đã cho con nhiếp chính, tức là con là người nhiếp chính.” Thấy con hổ nhỏ của mình cuối cùng đã chịu phục, Nguyễn Cân ngả lại về đệm lông êm ái ấm áp, nói. “Muốn sao để có uy, Bàng Hạ phải tự cứu mình thôi.”




Bàng Định về triều chỉ trong mười ngày kể từ khi đi. Dù trong tuyết lạnh mưa gió, ông cũng không cho phép Thú vệ dừng lại. Cần băng rừng thì băng rừng, qua sông thì qua sông. Cỗ xe xích thạch gần như không cả chạm đất.


Vậy nên, đến cuối cùng, Bàng Hạ cũng chưa kịp “tự cứu mình”.


Dù trên dọc đường Bàng Định có buồn bực đến đâu, hay ở nhà Bàng Hạ có cáu kỉnh đến thế nào, thì khi gặp lại nhau, hai cha con họ cũng quên sạch.


Bàng Định không giấu được vui mừng mà ôm vai đứa con gái út đã cất công ra tận cổng thành để đón mình, vừa kéo tay áo Bàng Lộ theo đi hai bước gộp làm một, vừa nói: “Nhị hoàng nữ thượng triều mấy nay thế nào rồi? Hai mẹ con ở nhà, cá vàng của ta đã chết mất con nào chưa đấy?”


“Nghe Lệ bà nói, đến chậu súng của bố cũng bị đem ra chơi rồi.” Bàng Lộ bấy giờ mới kể chuyện vui cho cha nghe. “Có khi cá là đem nướng cả rồi ấy chứ.”


“Không có nhé.” Bàng Hạ vừa bĩu môi cãi lại anh, vừa đáp lại cha. “Con lo hơi bị cẩn thận. Lò sưởi cho cá của bố còn ấm hơn lò sưởi của con nhé.”


“Gớm, em có quạt lò cho chúng nó được khắc nào chắc. Chắc lại để Lệ bà lo sạch chứ gì?”


“Anh thì biết cái gì…”


Bàng Định nghe hai con cạnh khóe nhau một hồi, cũng đã đi được vào tới mái che. Chỉ huy Ngự phủ quân cũng đã tới hầu thánh, ông cũng đành ra hiệu cho hai đứa nhà mình dừng cãi nhau lại, quay sang nói chuyện với người ta. Sau một hồi chủ tớ qua lại thì thầm, ông quay người, trìu mến bảo hai con: “Lộ với Hạ về với mẹ đi, để ta lên đại sảnh ngay bây giờ. Chiều ta đến gặp nàng ấy sau. Nhớ báo cẩn thận là ta có việc, kẻo nàng ấy lại bảo ta không quan tâm nàng.”


Bàng Lộ và Bàng Hạ nhìn cha, rồi nhìn nhau do dự.


“Đi đi.” Bàng Định lại giục, nhưng vẫn với một nụ cười trên môi.


Nên hai anh em cũng đành giũ giũ sương giá đọng trên vai áo và đầu tóc, lễ phép đáp “Vâng ạ” rồi xin phép rủ nhau đi.


Hai anh em đua bước chân nhau trên hành lang.


Bàng Hạ đi nhanh đến mức như đang nhảy chân sáo. Còn Bàng Lộ thì ưỡn lưng, thẳng thắn đĩnh đạc đi, nhưng bước chân cũng càng ngày càng dài ra.


“Thế là…” Cuối cùng cậu thanh niên mười sáu vẫn cao hơn em mình, y vừa vượt lên trước được, liền cười hỏi. “Có đúng là không có việc gì không đấy? Anh hóng được nhiều lắm đấy nhá. Để tụ lại mách bố sau ha.”


“Không việc gì.” Bàng Hạ thấy đi bình thường kiểu gì cũng không đua lại, liền đổi chiến thuật, nhảy lên lan can, đi có thể không nhanh hơn, nhưng lại cao hơn anh. “Cứ thoải mái mách đi. Em không sợ.”


“Cho xin mấy đồng đi.” Bàng Lộ biết thừa cái giọng cà cuống đến chết đít còn cay này, mớm cho em đường khác. “Nói đỡ cho.”


“Không.” Bàng Hạ đứng trên lan can, tựa vào cột nhà, hất cằm kiêu ngạo đáp. “Đây không có tiền cho anh. Vả lại, em đâu có sai.”


“Thế thì nhớ lời đấy.” Bàng Lộ thấy nàng kẹt đường rồi, liền rảo bước càng nhanh về phía trước. Kiểu gì Bàng Hạ cũng phải nhảy xuống. Lúc ấy thì y bỏ xa nàng rồi. “Lúc có gì đừng bảo đây qua cầu rút ván nha.”


Nhưng Bàng Hạ đương nhiên không định đi theo kiểu người thường để Bàng Lộ qua mặt.


Nàng tung người từ lan can bên này, mượn lực vịn cây cột để bay thẳng sang, ôm lấy cây cột bên kia, rồi lại xoay người thoăn thoắt, nhẹ nhàng đi trên bên lan can còn lại. Trong chốc lát, đã vừa cao hơn, lại vừa đi trước Bàng Lộ.


Y nhìn đứa em gái leo trèo như sóc của mình, lại càng phải vội bước chân để đuổi lên, nhưng vẫn giữ tư thái của một đại hoàng tự.


Không ai lại vô pháp như Bàng Hạ cả.


Bàng Hạ nhìn sắc mặt anh mình, cuối cùng cũng hạ xuống đất, đi như một nhị hoàng tự bình thường, rồi hỏi nghiêm túc: “Phía bắc có gì?”


“Có cả thành bị đồ.” Bàng Lộ không đùa nữa, nghiêm túc đáp. “Kẻ được cử đi bên kia họ Tống, nghe bảo có tài cán lắm.”


“Tương Như mất sau một đêm.” Bàng Hạ lại nói. “Không cần dò xét cũng biết có tài.”


“Bố giao lại toàn bộ cho Tô Hào rồi.”


“Toàn bộ là bao nhiêu?”


“Cần bao nhiêu có bấy nhiêu.” Bàng Lộ hiểu ý Bàng Hạ. Chính y cũng không vui với điều ấy. “Tô thị sẽ xử lý mọi thứ. Không có phần hai đứa mình.”


“Anh không nói gì à?”


“Có gì để mà nói? Tô Hào xin đánh. Bố đồng ý. Rồi cứ thế rời đi. Đâu để chỗ cho ai tranh cãi gì thêm. Em muốn kháng chỉ à?”


“Tô Hào thì biết gì mà đánh? Hai mươi năm không chiến sự, bà ta mới ở chức có năm năm thôi.”


“Thì biết sao giờ?” Bàng Lộ nghe vậy đột nhiên lại dừng lại. Vừa nhìn liếc qua Bàng Hạ, rồi lại nhìn xuống tay mình. Đôi tay chẳng có đến một vết sẹo. Rồi nói. “Hai mươi năm không chiến sự. Anh em mình mới có mười sáu, mười bốn thôi. Chê được ai đây? Kẻ không được nổi một năm cầm quân, lấy đâu mặt mũi chê người nắm binh năm năm trời?”


Bàng Hạ nghiêng đầu nhìn vẻ chán nản của anh cả, rồi mặt chính mình cũng dần bí xị như ngâm nước. Cuối cùng đành thở dài đáp: “Cứ thế này, đến chết cũng không chê được ai.”


“Chỉ đành mong người ta lấy đó mà thắng trận vậy.” Bàng Lộ lại cười nói. “Cả một thành bị giết sạch, đã thành nợ máu quốc nhục rồi. Không muốn thua thêm trận nữa đâu. Nhỡ mà nhờ vậy anh với em lại phải ngồi nhà cả đời, bố lại được thêm một cái hai mươi, ba mươi năm thái bình thịnh trị, thì cũng đáng mừng.”


Bàng Hạ khẽ lắc lắc đầu, rồi nhanh chóng sải bước đi, vừa đi về phía cung điện, vừa bảo người anh đang chán nản nhìn cơn gió mưa lạnh lẽo rít gào bên ngoài: “Về thôi. Mẹ đang mong. Về mà cầu mong cho Tô Hào khải hoàn thắng trận vậy.”


Cơn gió bấc lại thét gào bên ngoài. Vòm che xích thạch đỏ rực cũng leng keng tiếng va đập của sương giá.


Bên trong hành lang cung cấm được bao vây bởi đá đỏ, nên gió lạnh chẳng chạm tới được.


Các vị hoàng tự đời đời đi bên dưới vòm ấy. Hè mát, đông ấm, chẳng gì không đủ tốt.


Chỉ là tai không điếc, mắt chẳng mù, thì đều không làm ngơ nổi, gió lớn bên ngoài ra sao.




Sớm thôi, Tô thị cũng không ngăn nổi cơn bão ấy. Tương Như cũng sẽ không phải cơn bão cuối cùng.


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Chương 0: Đỏ mắt

Chương 2: Phi vân

Chương 4: Hoán diện